- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị V yêu cầu ly hôn với anh P"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V, cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
- Căn cứ chính? Luật Tố tụng hành chính; Luật Hoà giải; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KV 13 - GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29- 9 - 2025 “Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KV 13 - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thảo và bà Trần Thị Kia.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân kv 13 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân kv 13 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vi, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân kv 13 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/8/2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 08/9/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường A, tỉnh Gia Lai; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 15/11/2022, nơi cấp: Cục Q, Bộ C; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài P, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn A, xã Y, tỉnh Gia Lai; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 16/12/2022, nơi cấp: Cục Q, Bộ C; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 8 năm 2025, các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hoài P kết hôn vào ngày 27 tháng 6 năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Việc kết hôn giữa chị và anh P là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị V và anh P đã sống ly thân, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì vậy, chị V yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Chị V yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
Về nuôi con chung: Chị V và anh P có ba người con chung là Nguyễn Nhật T, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2006; Nguyễn Hoàng Kim T1, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2009 và Nguyễn Nhật K, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2018. Chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi các cháu Nguyễn Hoàng Kim T1, Nguyễn Nhật K và không yêu cầu anh Nguyễn Hoài P phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Nhật T hiện nay đã đủ 18 tuổi, có việc làm và tự lực được nên chị V không yêu cầu Toà án giải quyết việc nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị V khai chị và anh P không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Lời khai của anh Nguyễn Hoài P tại bản khai ngày 29 tháng 8 năm 2025 thể hiện:
Anh và chị V tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống giữa anh và chị V xảy ra nhiều mâu thuẫn, tuy nhiên anh P cho rằng những mâu thuẫn đó không đến mức phải ly hôn. Anh P mong muốn Toà án hoà giải để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, do vậy anh P không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị V có ba người con chung là Nguyễn Nhật T, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2006; Nguyễn Hoàng Kim T1, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2009 và Nguyễn Nhật K, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2018. Do anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân kv 13 – Gia Lai tham gia phiên tòa thể hiện:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Hoài P nhiều lần không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án nên Toà án phải xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V: Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P; về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Hoàng Kim T1, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2009 và cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2018. Đối với cháu Nguyễn Nhật T hiện nay đã đủ 18 tuổi, có việc làm và tự lực được nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét việc nuôi con; về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung với anh Nguyễn Hoài P có địa chỉ: Thôn A, xã Y, tỉnh Gia Lai. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án thì Tòa án nhân dân kv 13 - Gia Lai là Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết tranh chấp nói trên.
- Do bị đơn anh Nguyễn Hoài P vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 không só lý do nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai của các đương sự, Giấy chứng nhận kết hôn số 16, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp ngày 27/6/2005 có đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Hoài P kết hôn vào ngày 27 tháng 6 năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Việc kết hôn của chị V và anh P là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh P là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị V: Chị V cho rằng, thời gian gần đây giữa chị và anh P phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị V và anh P đã sống ly thân với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tại bản khai ngày 29 tháng 8 năm 2025 anh P thừa nhận trong quá trình chung sống giữa anh và chị V phát sinh nhiều mâu thuẫn nhưng không đến mức phải ly hôn. Mặc dù anh P mong muốn được Toà án hoà giải để vợ chồng hàn gắn mâu thuẫn, nhưng anh P nhiều lần không chấp hành giấy triệu tập của Toà án, điều đó thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc hòa giải để duy trì quan hệ hôn nhân. Mặt khác, chị V đã từng nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh P, quá trình giải quyết vụ án chị V đã rút đơn khởi kiện để tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nhưng mâu thuẫn giữa chị V và anh P ngày càng trầm trọng nên chị V tiếp tục làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh P thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V với anh P.
Về việc nuôi con chung: Chị V và anh P có ba người con chung là Nguyễn Nhật T, sinh ngày 08 tháng 3 năm 2006; Nguyễn Hoàng Kim T1, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2009 và Nguyễn Nhật K, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2018. Chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi các cháu Nguyễn Hoàng Kim T1, Nguyễn Nhật K và không yêu cầu anh Nguyễn Hoài P phải cấp dưỡng nuôi con. Xét chị V đang trong độ tuổi lao động có sức khỏe, việc làm, thu nhập đảm bảo điều kiện nuôi con. Mặt khác, yêu cầu của chị V là phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Hoàng Kim T1 được ghi nhận tại bản khai ngày 23/8/2025 và nguyện vọng của cháu Nguyễn Nhật K được ghi nhận tại bản khai ngày 23/8/2025. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị V, giao cho chị V trực tiếp nuôi con là các cháu Nguyễn Hoàng Kim T1, Nguyễn Nhật K. Đối với cháu Nguyễn Nhật T hiện nay đã đủ 18 tuổi, có việc làm và tự lực được nên Hội đồng xét xử không giải quyết việc nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị V và anh P đều không yêu cầu Toà án giải quyết về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn anh Nguyễn Hoài P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V, cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Hoàng Kim T1, sinh ngày 08 tháng 7 năm 2009 và cháu Nguyễn Nhật K, sinh ngày 03 tháng 6 năm 2018 khi cháu T1 và cháu K chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí:
- Chị Nguyễn Thị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị V đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001776 ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự kv 13 - Gia Lai, chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Hoài P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/9/2025), nguyên đơn chị Nguyễn Thị V có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoài P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai - VKSND kv 13 – Gia Lai; - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - UBND xã Ya Hội (để ghi vào sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) B T H |