vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông tài xin ly hôn với bà Giàu"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05 – 8 - 2025.
Về: “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Ngọc Liêm;

2. Bà Phạm Xuân Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 274/2025/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 3 năm 2025 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 402/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2025, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Ấp C, xã B, huyện Đ (nay là xã Đ), tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Bị đơn: Bà Trần Thị G, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã M, huyện C (nay là xã C), tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 13/3/2025 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông với bà G được hình thành là do tự tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2022, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh), theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64/2023 ngày 14/8/2023. Cuộc sống chung hạnh phúc đến tháng 9/2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cự cải, bà G bỏ nhà đi từ tháng 9/2023 không liên lạc, không quan tâm chồng con, vợ chồng đã ly thân nhau từ đó đến nay. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin ly hôn với bà G.

Về quan hệ con chung: Ông với bà Giàu C 01 con chung tên Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 13/3/2022, hiện do ông nuôi. Khi ly hôn ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu bà G cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Ông với bà G không có tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Ông với bà G không có nợ chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho bà Trần Thị G để tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải, nhưng bà vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, ông T có đơn xin vắng mặt, trong quá trình giải quyết ông T bảo lưu ý kiến của mình.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Ông T – bà G chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà G thường xuyên gây cải và bỏ nhà đi, không quan tâm, dẫn đến ly thân nhau, nên ông T xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Cháu Nguyễn Tuấn Phát H chưa đủ bốn tuổi và từ trước nay do ông T nuôi, đề nghị HĐXX giao con chung cho ông T tiếp tục muôi; về tài sản chung, nợ chung không đề cập. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Bà G được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, riêng ông T thì có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên HĐXX xét xử vắng mặt bà G, ông T theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền: Ông T khởi kiện ly hôn với bà G là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bà Giàu có địa chỉ cư trú tại xã M, huyện C (nay là xã C, tỉnh An Giang), nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11) thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền.

. Về quan hệ hôn nhân: Ông T – bà G kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2022, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh), theo G1 nhận đăng ký kết hôn số 64/2023 ngày 14/8/2023, nên xem là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện việc ông T và bà G thường xuyên cự cải, bà G thường bỏ nhà đi không quan tâm đến chồng con, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm gây cải và ly thân nhau…

Qua trình bày của ông T, mặc dù bà G đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về nguyên nhân mâu thuẫn vẫn đến yêu cầu xin ly hôn của ông T, nhưng bà G không có ý kiến phản đối, chứng tỏ trình bày của ông T là có căn cứ, mâu thuẫn hiện tại không chỉ giữa ông T với bà G mà từ khi ông T với bà G ly thân nhau đến nay đã hơn 03 năm nhưng gia đình bỏ mặt không đứng ra hàn gắn, nên xét khả năng đoàn tụ lại không thể, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX chấp nhận yêu cầu của ông T.

. Về quan hệ con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Tuấn P từ trước nay là do ông T nuôi, tình cảm giữa cháu P với ông T đã thật sự gắn bó. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của cháu P cũng như tạo điều kiện cho cháu Phát triển tốt về sau, HĐXX chấp nhận giao cháu P cho ông T tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.

Thông qua bản án HĐXX cũng giải thích cho ông T biết: Trong thời gian nuôi con, ông T cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng ông T không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông T khai ông với bà G không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do bà G vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cập ở phần quyết định. Nếu sau này bà Giàu C chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung, có nợ chung và bà Giàu C yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Ông Nguyễn Hữu T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các l trên

QU T ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Hữu T.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hữu T được ly hôn với bà Trần Thị G.

Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Hữu T được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Tuấn P, sinh ngày 13/3/2022. Bà G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông T cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp

nuôi con.

Về án phí: Ông Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0024301 ngày 19/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 – An Giang) (ông T nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/8/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ