vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 55, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định…

Về hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện của đương sự: Bà Hồ Kim C và ông Nguyễn Văn R thuận tình ly hôn.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Kim C - Nguyễn Văn R - LH"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 55, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2025
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Thắng;

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ,

tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 261/2024/HNGD-ST ngày 15

tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Kim C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ,

tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện

Đ, tỉnh Long An (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Lê Văn K, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long

An; (Vắng mặt).

3.2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh

Long An; (Vắng mặt).

3.3. Ngân hàng C2 - Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2;

Địa chỉ trụ sở: Khu phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22-8-2024, các văn bản tiếp theo, và tại phiên

tòa, nguyên đơn bà Hồ Kim C trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Nguyễn Văn R cưới nhau năm 2004, đăng ký kết hôn tại Ủy ban

nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An ngày 05-7-2005; C1 sống hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã nhau mất hạnh phúc, mặc dù cho nhau cơ hội để hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn R;

Về nuôi con chung: Đối với con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 09-

02-2005, đã thành niên, không yêu cầu giải quyết; Bà yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 17-8-2008 và Nguyễn Mạnh K1, sinh ngày 25-5-2012, đang sống với ông R; Bà không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết;

Về chia nợ chung: Không có.

- Tại bản tự khai ngày 01-11-2024, bị đơn ông Nguyễn Văn R trình bày:

Ông thống nhất trình bày của bà Hồ Kim C về ngày tháng, điều kiện kết hôn,

tình trạng hôn nhân, con chung, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian ly thân.

Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà C;

Về nuôi con chung: Thống nhất đối với con chung tên Thùy D, đã thành niên,

không yêu cầu giải quyết; Ông yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung tên Trúc L và Mạnh K1 (đang sống với ông); Ông không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung: Không có tài sản chung;

Về chia nợ chung: Vợ chồng có nợ: Ông Lê Văn K 20.000.000 đồng, ông

Nguyễn Văn Đ 27.000.000 đồng và Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2 20.000.000 đồng; Ông yêu cầu chia đôi số nợ với bà C, mỗi người trả 33.500.000 đồng.

- Vụ án không hòa giải đoàn tụ không thành;

- Ngày 07-01-2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn

Đ có đơn không yêu cầu khởi kiện và xin giải quyết, xét xử vắng mặt;

- Ngày 18-3-2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn K có

đơn không yêu cầu khởi kiện và xin giải quyết, xét xử vắng mặt;

- Ngày 11-4-2025, nguyên đơn bà Hồ Kim C có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Ngày 28-4-2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C2 -

Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2 có đơn không yêu cầu khởi kiện và xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn là ông Nguyễn Văn R vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý

do.

Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Hồ Kim C khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Nguyễn Văn R;

Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định

tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố

tụng Dân sự.

Nguyên đơn là bà Hồ Kim C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là:

Ông Nguyễn Văn Đ, ông Lê Văn K và Ngân hàng C2 - Phòng Giao dịch Ngân hàng

chính sách xã hội huyện C2 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo

quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Bị đơn là ông Nguyễn Văn R được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của

Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ

án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân

sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương

sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà C và ông R chung sống có đăng ký kết hôn ngày 05-7-2005 tại Ủy

ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông R

là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà C: Bà C và ông R thống nhất mâu thuẫn do vợ

chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã nhau mất hạnh

phúc, mặc dù cho nhau cơ hội để hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly

thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay. Xét từ khi xảy ra mâu thuẫn ly thân đến nay, bà

C và ông R không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà C và ông R mỗi người vẫn

tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau; Xét mâu thuẫn giữa bà C và ông

R đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt

được. Việc trước khi mở phiên tòa bà C yêu cầu và ông R thuận tình ly hôn là có căn

cứ, phù hợp theo quy định tại điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên công nhận.

Xét về nuôi con chung:

Xét con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 09-02-2005, đã thành

niên, bà C và ông R không yêu cầu giải quyết là phù hợp theo quy định tại Điều 81

của Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.

Xét việc bà C và ông R cùng yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung tên

Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 17-8-2008 và Nguyễn Mạnh K1, sinh ngày 25-5-2012:

Tuy bà C và ông R không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh người còn lại trực tiếp nuôi con sẽ ảnh hưởng quyền lợi về mọi mặt của con chung, nhưng xét 02 con chung tên Trúc L và Mạnh K1 đang sống với ông R, nguyện vọng muốn sống chung với ông R, việc thay đổi môi trường sống, học tập, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm lý, sinh lý của con chung, nên yêu cầu của ông R là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận; yêu cầu của bà C là không có căn cứ chấp nhận;

Ông R không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù

hợp theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân gia đình nên ghi nhận.

Bà C được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà C và ông R được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản chung: Bà C trình bày không yêu cầu giải quyết, ông R

trình bày không có, nên không đề cập. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nợ chung: Bà C trình bày không có; Ông R trình bày nợ ông Lê Văn K

20.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ 27.000.000 đồng và Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2 20.000.000 đồng; Ông R không khởi kiện yêu cầu xác định nợ chung; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ, ông Lê Văn K và Ngân hàng C2 - Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này; Do đó, không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà C đã nộp đủ án phí; Ông R không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 55, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện của đương sự: Bà Hồ Kim C và ông

Nguyễn Văn R thuận tình ly hôn.

2. Về nuôi con chung:

C1 tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 09-02-2005, đã thành niên, không yêu

cầu giải quyết.

Ông Nguyễn Văn R được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Nguyễn Thị Trúc L,

sinh ngày 17-8-2008 và Nguyễn Mạnh K1, sinh ngày 25-5-2012, đang sống với ông

R; Bà Hồ Kim C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà C được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi ích của

con chung, bà C và ông R được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và

việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Về chia nợ chung: Đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo

pháp luật tố tụng dân sự.

5. Về án phí: Bà Hồ Kim C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án

phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng

án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0004736 ngày 15-10-2024 của Chi

cục Thi hành án dân sự huyện Đ, bà C đã nộp đủ án phí;

6. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được

niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành

án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ