vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Văn T ly hôn với Đặng Hồng B. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn D, sinh ngày 08/7/2008 và Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 12/12/2012 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16-5-2025
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mỹ Dung;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Vĩnh Hòa; Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Bảo Pháp – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 368/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn Đ, xã H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Đặng Hồng B, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn Đ, xã H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tài liệu có tại hồ sơ nguyên đơn Nguyễn Văn Tùng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh T và chị B tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2007, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đông Hòa (nay là thị xã Đông Hoà) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88/2007, quyển số 2 ngày 25/9/2007. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích cãi vã; hai vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Từ năm 2023 đến nay, hai vợ chồng không còn sống chung với nhau. Tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với chị B để ổn định cuộc sống.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn D, sinh ngày 08/7/2008 và Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 12/12/2012. Anh T yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu chị Bích cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ngoài ra, anh Tùng không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, chị Đặng Hồng B vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị B không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn T. Ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Đặng Hồng B.

- Về con chung: Nguyễn D, sinh ngày 08/7/2008 và Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 12/12/2012 cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, bà B không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung mà không ai cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Đặng Hồng B hiện đang cư trú tại xã H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, theo quy định tại Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: anh T và chị B tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2007, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đông Hòa (nay là thị xã Đông Hoà) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 88/2007, quyển số 2 ngày 25/9/2007. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Hồng là hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân giữa anh T và chị B xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm rạn nứt trầm trọng, hai bên tự sống xa nhau thời gian khá lâu, mặc dù đã hàn gắn nhưng không thành, hiện tại anh Tùng sống cùng với các con chung. Điều này phù hợp với biên bản xác minh mâu thuẫn hôn nhân ngày 03/4/2025, được xác nhận của địa phương xã H, thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

Xét thấy, giữa anh T và chị B đã tự cắt đứt liên lạc với nhau, sống ly thân, không còn quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng không còn, trong gia đình không tồn tại tình nghĩa vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Đặng Hồng , để đảm bảo các bên ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh có cơ sở xác định: anh Nguyễn Văn T và chị Đặng Hồng B có hai con chung là Nguyễn D, sinh ngày 08/7/2008 và Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 12/12/2012. Từ khi vợ chồng sống xa nhau, con chung do anh Tùng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, anh gần gũi gắn bó các con từ lúc sinh ra đến nay, đảm bảo được việc chăm sóc và giáo dục cho các con. Do đó, giao hai con chung cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Đặng Hồng B có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo biên lai số 000xxx ngày 8/11/2024 của Chi cục thi hành án thị xã Đông Hòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 , 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Văn T ly hôn với Đặng Hồng B.

2. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn D, sinh ngày 08/7/2008 và Nguyễn Duy Đ, sinh ngày 12/12/2012 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Đặng Hồng B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng theo biên lai số 000xxx ngày 8/11/2024 của Chi cục thi hành án thị xã Đông Hòa.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án/bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Phú Yên;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thị xã Đông Hoà ;

- Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;

- Các đương sự;

- UBND xã Hòa Tân Đông;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đoàn Thị Mỹ Dung Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Phú Yên;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thị xã Đông Hoà ;

- Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;

- Các đương sự;

- UBND xã Hòa Tân Đông;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đoàn Thị Mỹ Dung CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Duy Ngọc

Phạm Tố Hữu

Đoàn Thị Mỹ Dung

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Phú Yên;

- VKSND thị xã Đông Hoà ;

- Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;

- Các đương sự;

- UBND P. Hòa Xuân Tây;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đoàn Thị Mỹ Dung CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thư

Phạm Tố Hữu

Đoàn Thị Mỹ Dung Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ