vanban.org

Bản án 24/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 09/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày 12/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Tiền - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 323 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST
Ngày: 09 – 4 – 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lƣơng Phi Hùng

2. Ông Sơn Mứt

- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Khanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 21/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HS, ngày 25/3/2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn T, sinh ngày 10/10/1983; Nơi cư trú: ấp Phú Thành, xã Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Huỳnh Văn N (chết) và bà Đinh Thị Đ; có vợ tên Nguyễn Thị H (đã ly hôn); anh chị em ruột có 02 người;

T án, T sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/12/2023 đến nay. Có mặt.

Nhân thân của bị cáo: Năm 2018 bị Công an huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số T 1.500.000 đồng (đã đóng phạt xong).

Những người tham gia tố tụng khác:

Bị hại: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp Đông Hưng 3, xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp Đông Hưng 3, xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp Phú Thành, xã Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 22/01/2021, Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1997, nơi thường trú: ấp Đông Hưng 3, xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đi bộ từ nhà ra đường bờ đai cùng ấp để tìm tài sản lấy trộm, đi được khoảng 100m thì Hoàng A phát hiện 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu VINA WIN màu xanh biển số kiểm soát 95F3-4300 của anh Nguyễn Chí T dựng cặp bên hông chòi không có ai trông coi. Lúc này, Hoàng A đi đến chỗ đậu xe dùng tay bứt dây max của xe rồi ngồi lên xe, khởi động xe nổ máy rồi điều khiên xe chạy ra hướng Quốc lộ 54. Sau đó, Hoàng A điều khiển xe đến nhà của Huỳnh Văn T, sinh năm 1983, ngụ ấp Phú Thành, xã Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long để nhờ T tìm người mua xe vừa trộm được, trước khi nhờ T bán xe thì Hoàng A có nói cho T biết xe là do Hoàng A vừa lấy trộm nhưng T vẫn đồng ý tìm người mua xe của Hoàng A vừa trộm được. T điện thoại cho Bùi Văn C kêu bán xe với giá 1.000.000đ (Một triệu đồng) thì C đồng ý mua nên T điều khiến xe chở Hoàng A đến cho C xem và C đồng ý mua xe với giá 900.000đ, lúc này T đi về nhà, còn Hoàng A và C ở lại trao đổi mua bán xe. Do không có đủ T nên C đưa cho Hoàng A 600.000 đồng và bịch ma túy trị giá 300.000 đồng thì Hoàng A đồng ý, mua xe xong C điều khiển xe chở Hoàng A về nhà T rồi C đi về. Hoàng A và T cùng nhau sử dụng ma túy mà C đưa cho Hoàng A, sau đó Hoàng A đưa cho T 100.000 đồng là T giới thiệu bán xe rồi Hoàng A ra về.

Đến ngày 23/01/2021 T bị Công an xã Đông Thành, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long mời làm việc, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhưng sau đó T bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bình Minh ra quyết định truy nã đối với T, đến ngày 12/12/2023 T bị bắt theo quyết định truy nã.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 06 ngày 28/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Bình Minh: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu VINA WIN màu xanh biển số kiểm soát 95F3-4300 có giá trị là 3.150.000 đồng.

* Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKSBM, ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh truy tố các bị cáo như sau: Bị cáo Huỳnh Văn T bị truy tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà,

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cuối cùng đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

* Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38 và điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

- Buộc bị cáo phải nộp số T thu lợi bất chính là 100.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

* Bị cáo trình bày: Bị cáo đều nhận thấy được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, hứa sẽ khắc phục không còn tái phạm, nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt do đã biết ăn năn hối cải, sẽ không tái phạm để làm người hữu ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên toà: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người làm chứng vắng mặt, nhưng trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, nên việc vắng mặt này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ sở xét xử vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định Cáo trạng của Viện kiểm nhân dân thị xã Bình Minh truy tố bị cáo Huỳnh Văn T phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ phạm tội: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, tuy bị cáo và Hoàng A không có hứa hẹn trước và bị cáo biết rõ tài sản là chiếc xe VINA WIN biển số 95F3-4300 là tài sản trộm cắp mà có được nhưng bị cáo vẫn đồng ý nhận lời của Hoàng A tìm người mua để bán tài sản. Lẽ ra, khi nghe Hoàng A nhờ tìm người mua để bán chiếc xe thì bị cáo phải khuyên Hoàng A trả lại xe cho bị hại, hoặc từ chối và tố giác hành vi trộm cắp của Hoàng A, nhưng bị cáo không làm vậy mà còn điện thoại cho Bùi Văn C để bán được tài sản, sau khi bán tài sản thì bị cáo được Hoàng A chia cho bị cáo 100.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Từ đó cho thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tính tiết giảm nhẹ: Qua quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xem đây là tính tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

- Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Buộc bị cáo phải nộp số T thu lợi bất chính 100.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về bồi thường thiệt hại: Do tài sản đã trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 38 và các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T mức án 06 (sáu) tháng tù.

- Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày 12/12/2023.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

- Buộc bị cáo T phải nộp 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) T thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

2. Về bồi thường thiệt hại: Do bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo T phải nộp số T 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, các đương sự trong vụ án có mặt tại phiên toà biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ