- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 28-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H,TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Khỏe và ông Nguyễn Văn Quyết
Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1963 tại Hưng Yên. Nơi thường trú: Số 12/97 Nguyễn Hữu C, phường Ng, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: Số 35 Tr, phường Ng, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Th và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 10/11/2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam -Công an tỉnh Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
+ Anh Trần Trung H (vắng mặt).
+ Anh Trần Anh T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSNDTPHD ngày 29/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Ngọc Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự với căn cứ:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 05/11/2023, tại trước cửa hàng xăng dầu số 02 trên đường Tr, phường Tr, thành phố H. Phòng sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương trong quá trình làm nhiệm vụ đã phối hợp với công an phường Tr phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc Th có hành vi cất giấu trái phép 01 (một) túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (02x03)cm, bên trong chứa chất rắn dạng cục tinh thể màu trắng - Nguyễn Ngọc Th tự khai là ma túy dạng đá cất giấu do mua hộ đối tượng mới quen tên Hưng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc Th khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 05/11/2023, khi Th đang ở nhà thì có đối tượng tên Hưng là người Th mới quen đến gọi ra ngoài đặt vấn đề nhờ Th mua hộ 400.000 đồng ma túy đá. Th đồng ý mua hộ và bảo đối tượng tên Hưng buổi chiều đến lấy. Sau đó Th điều khiển xe máy hiệu Honda SH biển số 34B4-753.87 của chị Vũ Thị Huyền Thanh (là con riêng của chị Tuyến - vợ Th) ra khu vực Đình Ngọc Uyên. Tại đây, Th đã gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng cất giấu vào túi quần. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Th đang ở khu vực cửa hàng xăng dầu số 02 trên đường Tr thì bị cơ quan điều tra phát hiện thu giữ vật chứng là túi ma túy đồng thời bắt giữ Th trước sự chứng kiến của anh Trần Trung Hiếu và anh Trần Anh Tuấn.
Tại kết luận giám định số 546/-KL-KTHS ngày 07/11/2023 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Ngọc Th, gửi đến giám định có khối lượng là 0,297 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Cơ quan giám định đã hoàn trả 0,266 gam Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc Th thừa nhận vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 05/11/2023, tại trước cửa cửa hàng xăng dầu số 02 đường Tr, phường Tr, thành phố H; Nguyễn Ngọc Th đã bị cơ quan điều tra công an tỉnh Hải Dương bắt giữ do thực hiện hành vi cất giấu trái phép 01 (một) túi Methamphetamine mua hộ đối tượng tên Hưng với mục đích để Hưng sử dụng. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định; thể hiện thái độ ăn năn hối cải; công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 05/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 và điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 0,266 gam Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Ngọc Th.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm hình sự đối với bị cáo.
Bị cáo nhất trí luận tội không tham gia tranh luận, thể hiện lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Ngọc Th có tội và áp dụng pháp luật:
Tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc Th thừa nhận vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 05/11/2023, tại trước cửa cửa hàng xăng dầu số 02 đường Tr, phường Tr, thành phố H. Đã cố ý thực hiện hành vi cất giấu trái phép 01 (một) túi Methamphetamine mua hộ đối tượng tên Hưng với mục đích để Hưng sử dụng thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản niêm phong, mở niêm phong vật chứng bị tạm giữ, vật chứng đã thu giữ. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của bị cáo, biên bản lấy lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai của người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi cất giấu trái phép chất ma túy với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi “Tàng trữ trái phép ma túy” là loại Methamphetamine có khối lượng 0,297 gam nên bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố và bị đưa ra xét xử về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo là người phạm tội về ma túy nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo cũng phù hợp với quy định của pháp luật.
Về biện pháp tư pháp:
Đối với vật chứng cơ quan giám định hoàn lại, xét thấy Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành, vỏ túi nilon cùng phong bì niêm phong vật chứng được hoàn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Ngọc Th do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo để sử dụng.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda – SH biển số 34B4-753.87 là tài sản hợp pháp của chị Vũ Thị Huyền Th, chị Thanh khi cho bị cáo mượn xe không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Thanh chiếc xe là phù hợp.
Đối với 02 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung đối với bị cáo được xác định là tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên tiếp tục cho quản lý tại hồ sơ.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các vấn đề khác:
Hành vi bán ma túy cho Th của đối tượng nam giới không xác định được; hành vi nhờ Th mua hộ ma túy của đối tượng tên Hưng không xác định được nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm của những người này là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c Khoản 2 và điểm a Khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Th 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/11/2023.
3. Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu cho tiêu hủy 0,266 gam Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số 033063001751 mang tên Nguyễn Ngọc Th.
(Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).
Tiếp tục quản lý tại hồ sơ 02 đĩa CD ghi âm buổi hỏi cung đối với bị cáo.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Nguyễn Ngọc Th.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện Kiểm sát nhân dân TP Hải Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT công an TP Hải Dương; - Cơ quan THAHS công an T. Hải Dương; - Cơ quan THAHS công an TP. Hải Dương - Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương; - Bộ phận HS nghiệp vụ - Công an thành phố H; - Chi cục THADS thành phố H; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Thắng |