vanban.org

Bản án 24/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 28/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Mậu C (tên gọi khác: Bi Đoàn) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử: Tịch thu, tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Mậu C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Mậu C (tên gọi khác: Bi Đoàn) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST
Ngày 28 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Hiến;

Bà Võ Thị Kim Lan.

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Phan Khắc Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 29/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 14/3/2024, đối với:

- Bị cáo: Lê Mậu C, tên gọi khác: Bi Đoàn; giới tính: Nam; sinh ngày 20/7/1990 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố S, Phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Mậu Đ, sinh năm 1954 và con bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1962; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 03; vợ: Phạm Thị Minh T, sinh năm 1988 và có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 17/3/2004, bị Công an thị xã Đông Hà, tỉnh quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với mức phạt cảnh cáo.

+ Ngày 21/01/2010, bị Toà án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 04 năm 02 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 23/12/2011.

+ Ngày 28/3/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 14/4/2014.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị từ ngày 06/10/2023 đến nay, có mặt tại phiên toà.

2.1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Minh T, sinh năm 1988; địa chỉ: Số 50/4 đường TĐ, khu phố S, Phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

2.2. Người làm chứng:

- Anh Hoàng Ngọc Bảo N, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu phố N, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

- Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện HL, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

- Anh Lê Ngọc R, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố S, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có ma túy vừa sử dụng vừa bán lại cho người khác kiếm lời, Lê Mậu C thường liên lạc với một nam thanh niên tên Đại (không rõ nhân thân, lại lịch) để mua ma túy Heroine. C sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0934.876.552 liên lạc với số điện thoại có số đuôi 357 của nam thanh niên tên Đại đặt mua ma túy, cả hai thỏa thuận địa điểm giao nhận tại khu vực bồn hoa sau Trường trung học cơ sở Nguyễn Huệ (thuộc Phường 5, thành phố Đông Hà). C thường đến khu vực trên lấy ma túy và đặt tiền lại vị trí ma túy đã lấy sau đó chia nhỏ thành từng “tép” để bán cho các con nghiện trên địa bàn thành phố Đông Hà.

Cũng với phương thức như trên, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/10/2023, C liên lạc với nam thanh niên tên Đại đặt mua 1.500.000 đồng ma túy Heroine. C đến khu vực bồn hoa sau Trường trung học cơ sở Nguyễn Huệ đặt tiền và lấy ma túy. Sau khi có ma túy, C đưa về nhà dùng kéo đập nhỏ cục ma túy, chia thành 18 “tép” bỏ vào 18 mảnh giấy màu trắng loại vở ô li, bên ngoài được gói bằng miếng giấy bạc. C để 02 “tép” Heroine ở trong xe ô tô BKS: 74A - 085.93 (là tài sản đứng tên Lê Mậu C) để tiện bán cho ai cần mua, 16 “tép” Heroine còn lại C cất giấu trên nắp bồn cầu nhà vệ sinh tầng 1. Đến 07 giờ ngày 06/10/2023, khi C lên xe ô tô BKS: 74A - 085.93 chuẩn bị rời khỏi nhà thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên xe ô tô 02 “tép” ma túy Heroine.

Sau khi bị bắt quả tang, Lê Mậu C tự nguyện giao nộp 16 gói giấy bạc được bọc kín, bên trong các gói giấy bạc là mảnh giấy trắng loại vở ô li, mở ra phía trong có chứa ma túy Heroine.

Khám xét tại phòng ngủ của Lê Mậu C thu giữ 01 cuộn giấy bạc; 01 cây kéo cán nhựa màu đỏ đen; 08 mảnh giấy bạc kích thước (02x05)cm; 05 mảnh giấy màu trắng kích thước (2,5x3)cm; 01 tập giấy vở kẻ ô li và 02 cân điện tử màu đen. C khai nhận các đồ vật trên được C sử dụng vào việc chia nhỏ ma túy.

Quá trình điều tra, Lê Mậu C khai nhận:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/9/2023, Hoàng Ngọc Bảo N (trú tại khu phố 5, Phường 5, thành phố Đông Hà) liên lạc với Lê Mậu C hỏi mua 01 “tép” ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. C hẹn N đến khu vực gần Đài Truyền hình (thuộc Phường 1, thành phố Đông Hà) để nhận ma túy. N điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thanh C (trú tại thôn Phú Linh, xã Hải Phong, huyện Hải Lăng) đến điểm hẹn thì thấy C ngồi trên xe ô tô BKS 74A - 085.93 nên N áp sát xe mô tô đến bên cửa xe ô tô, C hạ kính xe, giao 01 tép ma túy cho N và nhận lại 200.000 đồng.

Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/10/2023, Lê Ngọc R (trú tại khu phố 6, Phường 5, thành phố Đông Hà) liên lạc với Lê Mậu C hỏi mua 01 “tép” ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. C hẹn Rin đến khu vực sau Trung T văn hóa tỉnh Quảng Trị để nhận ma túy. R đến điểm hẹn thì thấy C ngồi trên xe ô tô BKS 74A

- 085.93 nên R áp sát xe mô tô đến bên cửa xe ô tô, C hạ kính xe, giao 01 tép ma túy cho R và nhận lại 200.000 đồng.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

+ 02 gói có đặc điểm giống nhau, mỗi gói có kích thước (2,5x0,7)cm, bên ngoài là lớp giấy bạc, bên trong là 01 lớp giấy màu trắng có kẻ ô ly chứa chất rắn màu trắng dạng cục, hạt, bột;

+ 16 gói giấy bạc được bọc kín, bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng cục, hạt, bột;

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353101113756497, trên thẻ sim có dãy số 8401210833389998, đã qua sử dụng;

+ 01 xe ô tô hiệu Kia Cerato, màu đỏ, mang BKS: 74A-085.93; số máy: G4FGJH609066, số khung: 41M6JC139460, đã qua sử dụng;

+ 01 cuộn giấy bạc được cuộn tròn kích thước (30x3,2)cm;

+ 01 cây kéo có cán nhựa màu đỏ đen;

+ 08 mảnh giấy bạc có kích thước tương tự nhau, kích thước (3x2,5)cm;

+ 05 mảnh giấy màu trắng có đường kẻ ô ly, kích thước (3x2,5)cm;

+ 01 tập giấy vở, màu trắng có kẻ ô ly kích thước (20x15)cm;

+ 02 thiết bị màu đen dạng cân điện tử.

* Kết luận giám định:

- Tại Bản kết luận giám định số 986/KL-KTHS ngày 11/10/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị đã có kết luận đối với ma tuý thu giữ của Lê Mậu C.

+ Chất rắn màu trắng dạng cục, hạt, bột đựng trong túi nilon, ký hiệu 1 là ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,0812 gam.

+ Chất rắn màu trắng dạng cục, hạt, bột đựng trong túi nilon, ký hiệu 2 là ma túy loại Heroin có khối lượng là 0,0561 gam.

+ Chất rắn màu trắng, dạng cục, hạt, bột là ma túy; loại Heroin có khối lượng 1,3261 gam.

- Tại Bản kết luận giám định số 1056/KL-KTHS ngày 31/10/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị đã có kết luận về các mẫu vật cần giám định đường vân, mẫu vật giám định phát hiện có dấu vết đường vân nhưng các dấu vết đường vân mờ nhòe không đủ yếu tố giám định.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSĐH ngày 29/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố bị cáo Lê Mậu C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Mậu C từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu, tiêu hủy: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định; các mảnh giấy bạc và mảnh giấy trắng hoàn lại sau giám định; 01 cuộn giấy bạc được cuộn tròn kích thước (30x3,2)cm; 01 cây kéo có cán nhựa màu đỏ đen; 08 mảnh giấy bạc có kích thước tương tự nhau, kích thước (3x2,5)cm; 05 mảnh giấy màu trắng có đường kẻ ô ly, kích thước (3x2,5)cm; 01 tập giấy vở, màu trắng có kẻ ô ly kích thước (20x15)cm; 02 thiết bị màu đen dạng cân điện tử, đã qua sử dụng.

+ Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng.

+ Tịch thu, sung quỹ nhà nước: ½ trị giá xe ô tô hiệu Kia Cerato, màu đỏ, BKS: 74A-085.93, số máy: G4FGJH609066, số khung: 41M6JC139460, đã qua sử dụng và giao chị Phạm Thị Minh T quyền sở hữu ½ trị giá xe ô tô.

+ Truy thu của bị cáo số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi mua bán ma tuý của bị cáo là sai trái, gây ảnh hưởng lớn đến xã hội, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Để có ma tuý vừa để sử dụng cho bản thân và bán lại để kiếm lời, Lê Mậu C đã nhiều lần liên lạc mua ma tuý loại Heroin của một nam thanh niên tên Đại (không rõ nhân thân, lai lịch) rồi đưa về nơi ở của mình chia nhỏ ra nhiều “tép” để bán.

Ngày 28/9/2023, Lê Mậu C đã bán 01 gói ma túy Heroine cho Hoàng Ngọc Bảo N (trú tại khu phố 5, Phường 5, thành phố Đông Hà) với giá 200.000 đồng và ngày 05/10/2023 bán cho Lê Ngọc R (trú tại khu phố 6, Phường 5, thành phố Đông Hà) 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng.

Ngày 06/10/2023, Lê Mậu C tiếp tục mua 1,4589gam ma túy Heroine nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Trị phát hiện, bắt quả tang.

Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Mậu C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; gây mất trật tự trị an ở địa phương và T lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận từ việc bán ma tuý nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm và phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục, đồng thời góp phần vào công tác phòng, chống và đẩy lùi tội phạm, đặc biệt là tội phạm ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình; tự nguyện khai nhận 02 lần thực hiện hành vi bán ma tuý cho Hoàng Ngọc Bảo N vào ngày 28/9/2023 và Lê Ngọc R vào ngày 05/10/2023. Vì vậy, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r và “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với các vật chứng, gồm:

+ Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS3 2117306 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.

+ Các mảnh giấy bạc và mảnh giấy trắng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS3 1908251 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.

+ 01 cuộn giấy bạc được cuộn tròn kích thước (30x3,2)cm;

+ 01 cây kéo có cán nhựa màu đỏ đen;

+ 08 mảnh giấy bạc có kích thước tương tự nhau, kích thước (3x2,5)cm;

+ 05 mảnh giấy màu trắng có đường kẻ ô ly, kích thước (3x2,5)cm;

+ 01 tập giấy vở, màu trắng có kẻ ô ly kích thước (20x15)cm;

+ 02 thiết bị màu đen dạng cân điện tử, đã qua sử dụng.

Ma tuý là chất cấm lưu hành và các vật chứng khác là những đồ vật bị cáo dùng để gói ma tuý, hiện nay không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 353101113756497, trên thẻ sim có dãy số 8401210833389998, đã qua sử dụng; là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 xe ô tô hiệu Kia Cerato, màu đỏ, mang biển kiểm soát: 74A

- 085.93, số máy: G4FGJH609066, số khung: 41M6JC139460, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên toà, xác định đây là tài sản chung của bị cáo với vợ là chị Phạm Thị Minh T. Bị cáo đã sử dụng xe ô tô trên để cất giấu ma tuý và đi giao ma tuý cho người mua ma tuý. Tuy nhiên, việc bị cáo sử dụng xe ô tô làm phương tiện phạm tội thì chị Phạm Thị Minh T không biết. Vì vậy, cần tịch thu, sung quỹ nhà nước ½ trị giá xe ô tô và giao chị Phạm Thị Minh T quyền sở hữu ½ trị giá xe ô tô.

Các vấn đề khác:

- Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo thu được từ việc bán ma tuý cho Hoàng Ngọc Bảo N và Lê Ngọc R, là tiền thu lợi bất chính nên cần truy thu của bị cáo để sung quỹ nhà nước.

- Đối với Hoàng Ngọc Bảo N; Lê Ngọc R và Nguyễn Thanh C, là các đối tượng đã mua ma tuý của bị cáo C. Căn cứ kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể những đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền đối với các đối tượng trên là đúng quy định.

- Quá trình điều tra, cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nam thanh niên tên Đại đã bán ma tuý cho bị cáo nên không có cơ sở xử lý.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Mậu C (tên gọi khác: Bi Đoàn) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Mậu C 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 06/10/2023).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS3 2117306 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.

+ Các mảnh giấy bạc và mảnh giấy trắng hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3 1908251 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.

+ 01 cuộn giấy bạc được cuộn tròn kích thước (30x3,2)cm;

+ 01 cây kéo có cán nhựa màu đỏ đen, đã qua sử dụng;

+ 08 mảnh giấy bạc có kích thước tương tự nhau, kích thước (3x2,5)cm;

+ 05 mảnh giấy màu trắng có đường kẻ ô ly, kích thước (3x2,5)cm;

+ 01 tập giấy vở, màu trắng có kẻ ô ly kích thước (20x15)cm;

+ 02 thiết bị màu đen dạng cân điện tử, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 353101113756497, trên thẻ sim có dãy số 8401210833389998, đã qua sử dụng.

- Tịch thu, sung quỹ nhà nước: ½ trị giá xe ô tô hiệu Kia Cerato, màu đỏ, mang biển kiểm soát: 74A - 085.93, số máy: G4FGJH609066, số khung: 41M6JC139460, đã qua sử dụng và giao chị Phạm Thị Minh T quyền sở hữu ½ trị giá xe ô tô.

Các vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/3/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.

- Truy thu của bị cáo số tiền thu lợi bất chính là 400.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,

Buộc bị cáo Lê Mậu C phải chịu số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ