- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 22/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kim Mỹ
2. Ông Lê Anh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Trương Phạm Duy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 17/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HS ngày 29/01/2024, đối với bị cáo:
Phạm Minh H, sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số C, Lô C, chung cư Ấ, phường I, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chổ ở hiện nay: số H, khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H1, sinh năm: 1967 và bà Trần Thị H2; sinh năm: 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/12/2023 bị Công an thành phố B xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” (Quyết định xử phạt hành chính số 539/QĐ-XPHC ngày 25/12/2023); bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã N, huyện C, tỉnh tiền G. Vắng mặt
- Người làm chứng: Hồ Hoàng H3, sinh năm 2001; nơi cư trú: số A, ấp H, H, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
- Người chứng kiến: Nguyễn Minh T1, sinh năm 2003; nơi cư trú: số B, ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 05 phút ngày 01/08/2023, Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp Công an xã S, thành phố B tuần tra trên Quốc lộ E. Khi đến địa phận Ấp C, xã S, thành phố B, phát hiện Phạm Minh H, Sinh năm 2003; ĐKTT: Số C, Lô C, Chung cư Ấ, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đang ngồi trên xe mô tô biển số 63F9-5618 dừng bên lề đường, có biểu hiện khác thường nên kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện: cách trục sau xe mô tô của H 1,03 mét có 01 gói hình chữ nhật bên ngoài có quấn băng keo màu đen, bên trong gói là 01 gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy màu trắng có: 01 túi nylon màu trắng hàn kín 04 phía, một phía có rãnh khép và vạch màu xanh bên trong túi nylon chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 túi nylon màu trắng, hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong túi nylon màu trắng này chứa 02 viên nén màu vàng, nghi là ma túy. H khai nhận đó là ma túy của H, tinh thể màu trắng loại Ketamine và 2 viên nén màu vàng là thuốc lắc nên Cơ quan Công an tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 01 giờ 30 phút.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nylon màu trắng hàn kín 04 phía, một phía có rãnh khép và vạch màu xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nylon màu trắng, hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong chứa 02 viên nén màu vàng, nghi là ma túy; 01 đoạn băng keo màu đen; 01 tờ giấy màu trắng, hình than được gói lại; 01 xe mô tô biển số 63F9-5618, nhãn hiệu: DRIN, số loại: DR100-1, màu nâu, số máy: LCEDR10000051442, số khung: DR10000026818.
Phạm Minh H khai nhận ma túy có được là do: khoảng 00 giờ 20 phút ngày 01/8/2023, H đến khu vực hẻm nhà nghỉ Đ ở khu phố B, Phường F, thành phố B gặp một người nam thanh niên không biết tên và địa chỉ đầy đủ mua nửa hộp 5 ketamine và 02 viên thuốc lắc giá 2.000.000 (Hai triệu) đồng. Người thanh niên này hẹn gặp ở đầu hẻm Đ ở Ấp A, xã S, thành phố B để nhận ma túy. Khoảng 30 phút sau nam thanh niên nêu trên chạy xe ra đưa ma túy cho H, H cầm ma túy trên tay phải và chạy đến khu vực địa phận Ấp C, xã S, thành phố B định tìm nơi sử dụng và chờ bạn không rõ họ tên, địa chỉ của Hồ Hoàng H3, sinh năm: 2001, ĐKTT: Số A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre ra trả tiền cho H3 do người này mượn của H3 trước đó thì bị lực lượng Công an phát hiện lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bản kết luận giám định số 584/2023/KL-KTHS ngày 11/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,4762 gam. 02 viên nén màu vàng đựng trong 01 túi nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng: 0,8128 gam.
Quá trình điều tra, Phạm Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định ma túy, phù hợp các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục tạm giữ mẫu vật ma túy và vỏ bao gói (còn lại sau giám định), 01 đoạn băng keo màu đen, 01 mãnh giấy màu trắng gói ma túy để xử lý theo luật định. Đối với xe mô tô biển số 63F9-5618, nhãn hiệu: DRIN, số loại: DR100-1, màu nâu, số máy: LCEDR10000051442, số khung: DR10000026818 chưa xác định xác định chủ sở hữu là ai nên tiếp tục tạm giữ xử lý sau.
Tại cáo trạng số 06/CT-VKSTPBT ngày 16/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
Về hình phạt chính: áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định; 01 đoạn băng keo màu đen; 01 tờ giấy màu trắng, hình than được gói lại.
Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B 01 xe mô tô biển số 63F9-5618, nhãn hiệu: DRIN, số loại: DR100-1, màu nâu, số máy: LCEDR10000051442, số khung: DR10000026818 để xác minh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến nhưng quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01/08/2023, trên Quốc lộ E, khu vực Ấp C, xã S, thành phố B, Phạm Minh H đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,4762 gam ma túy, loại Ketamine và 0,8128 gam ma túy, loại MDMA để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết việc cất giấu ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý mua và cất giấu 1,4762 gam ma túy, loại Ketamine và 0,8128 gam ma túy, loại MDMA để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của con người, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự nơi bị cáo thực hiện tội phạm, nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng ngày 25/12/2023 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định xử phạt hành chính số 539/QĐ-XPHC của Công an thành phố B). Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định; 01 đoạn băng keo màu đen; 01 tờ giấy màu trắng, hình than được gói lại.
Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B 01 xe mô tô biển số 63F9-5618, nhãn hiệu: DRIN, số loại: DR100-1, màu nâu, số máy: LCEDR10000051442, số khung: DR10000026818 để xác minh làm rõ chủ sở hữu và nguồn gốc xe để xử lý theo thẩm quyền.
Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác minh, làm rõ đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo để xử lý theo quy định pháp luật. Việc Phạm Minh H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 31/7/2023 đã bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” bằng Quyết định xử phạt hành chính số 539/QĐ-XPHC ngày 25/12/2023 là phù hợp nên ghi nhận.
Lời phát biểu luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt và xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: chất ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì 584/2023 có chữ ký ghi tên Phan Nghĩa T2, Phan Trung T3, Lê Thị Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 đoạn băng keo màu đen; 01 tờ giấy màu trắng, hình than được gói lại.
Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B 01 xe mô tô biển số 63F9-5618, nhãn hiệu: DRIN, số loại: DR100-1, màu nâu, số máy: LCEDR10000051442, số khung: DR10000026818 để xác minh làm rõ chủ sở hữu và nguồn gốc xe để xử lý theo thẩm quyền.
(Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý).
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Minh H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THADS thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND phường Phú Khương, TP. BT (1b); - Bị cáo, NTGTT (2b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |