vanban.org

Bản án 24/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 27/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo 17 (mười bảy) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo 17 (mười bảy) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST
Ngày 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Văn Thăm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Bống.

2. Ông Đinh Công Ó.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Người tiến hành tố tụng:

Kiểm sát viên: Bà Cầm Thị Quỳnh Anh.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, Chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Đinh Văn Hải và ông Cầm Văn Duy.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Giàng A L (tên gọi khác: không), sinh ngày 20 tháng 7 năm 1999 tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Bản SK, xã KB, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A D, sinh năm 1979 và bà Sồng Thị S, sinh năm 1980; có vợ là Thào Thị D, sinh năm 1998 và 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2024 đến ngày xét xử. “ Có mặt”.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Giàng A D, sinh năm 1979 trú tại Bản SK, xã KB, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 50 phút ngày 24/9/2024, tổ công tác Công an xã KB, huyện Phù Yên làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực bản SK, xã KB, phát hiện 01 người đàn ông đang điều khiển xe môtô BKS: 26D1-129.93, nhãn hiệu ESPERO có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính và xác định người này là Giàng A L. Quá trình làm việc, L đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 03 gói nilon gồm 01 gói nilon màu hồng, 02 gói nilon màu xanh, trong cùng đều là chất bột màu trắng. L khai nhận đó là ma túy Heroine vừa mua với một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết. Mục đích để sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, tạm giữ 01 xe môtô biển kiểm soát 26D1-129.93, nhãn hiệu ESPERO, loại WIN DETECH. đồng thời đưa Giàng A L về Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên để điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra, bị cáo Giàng A L khai nhận: Khoảng 07 giờ 05 phút ngày 30/9/2024 L tự ý lấy xe mô tô BKS: 26D1-129.93 của bố là ông Giàng A D đi từ nhà ở bản SK đến bản Trung Thành, xã KB có việc. Khi đi đến khu vực đầu bản Trung Thành, xã KB, huyện Phù Yên thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 60 tuổi, không quen biết. Người phụ nữ này hỏi L có mua ma túy không. L đồng ý và nói mua 200.0000 đồng. L đưa 200.000 đồng cho người phụ nữ này và nhận lại 01 gói có đặc điểm bên ngoài được gói bằng nilon màu xanh, bên trong có 03 gói nilon, trong đó có 01 gói nilon màu hồng, 02 gói nilon màu xanh, bên trong mỗi gói đều chứa ma túy Heroine. L cầm ma túy trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi về nhà. Trên đường về thì gặp tổ công tác Công an xã KB, huyện Phù Yên tuần tra kiểm soát phát hiện, bắt quả tang.

Ngày 30/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng chất bột màu trắng, nghi là ma túy thu giữ của Giàng A L như sau:

+ Gói nilon màu hồng đựng chất bột màu trắng có khối lượng 0,133 gam. Lấy toàn bộ mẫu gửi giám định, ký hiệu L1.

+ Gói nilon màu xanh thứ nhất đựng chất bột màu trắng có khối lượng 0,205 gam. Lấy toàn bộ mẫu gửi giám định, ký hiệu L2.

+ Gói nilon màu xanh thứ hai đựng chất bột màu trắng có khối lượng 0,054 gam. Lấy toàn bộ mẫu gửi giám định, ký hiệu L3.

Tổng khối lượng ba gói là 0,392 gam.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số 735/QĐ-ĐCSHS-KTMT trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy vật chứng của vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 1907/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

Mẫu ký hiệu L1; L2; L3 gửi giám định đều là ma tuý; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diaetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là L1 = 0,133 gam; L2 = 0,205 gam; L3 = 0,054 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,392 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diaetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số: 79/CT-VKS ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo Giàng A L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A L từ 16-20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 03 mảnh nilon màu xanh + 01 mảnh nilon màu hồng. Trả lại 01 chiếc xe gắn máy BKS 26D1-129.93, nhãn hiệu ESPERO, số loại Win DETECH màu đen, số khung 001636, số máy 001636, xe cũ đã qua sử dụng cho anh Giàng A D là chủ sở hữu hợp pháp.

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 08 giờ 05 phút ngày 30/9/2024 tại Bản KB, xã KB, huyện Phù Yên; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 30/9/2024, bị cáo Giàng A L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,392 gam ma tuý, loại Heroine để sử dụng đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về nhân thân của bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần bị xử phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, để cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc diện gia đình hộ nghèo của xã KB, huyện Phù Yên (Quyết định số 177/QĐ-UBND ngày 29/12/2024 của UBND xã KB, huyện Phù Yên) do đó không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì thư đã được phong, bên trong đựng 03 mảnh ni lon màu xanh + 01 mảnh nilon màu hồng. Xét là những vật không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 26D1-129.93, nhãn hiệu ESPERO, số loại WIN DETECH màu đen. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của anh Giàng A D, là bố đẻ của bị cáo, khi bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy thì anh D không biết, không liên quan, tại phiên toà anh Giàng A D đề nghị HĐXX trả lại tài sản. Xét đề nghị của anh D là có căn cứ cần chấp nhận trả lại 01 chiếc xe cho anh Giàng A D quản lý, sử dụng.

Đối với người đàn phụ nữ đã bán ma túy cho Giàng A L không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý. Do đó, Giàng A L phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy Heroine đã bị thu giữ.

Án phí HSST: Bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó cần miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo 17 (mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư đã được niêm phong, bên trong đựng 03 (ba) mảnh nilon màu xanh + 01 (một) mảnh nilon màu hồng.

-Trả lại 01 chiếc xe gắn máy BKS 26D1-129.93, nhãn hiệu ESPERO, số loại Win DETECH màu đen, số khung 001636, số máy 001636, xe cũ đã qua sử dụng cho anh Giàng A D là chủ sở hữu hợp pháp.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 14 giờ 00 phút ngày 04/12/2024 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A L.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2024).

Cỡ chữ