vanban.org

Bản án 24/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "B và T mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt b sung; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST
Ngày 14-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Ngư; ông Nguyễn Văn Thuyết;

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Trọng - Kiểm sát viên Trung cấp và bà Trần Thị Miền – Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 03/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tiến B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/02/1957; Nơi thường trú: X m , x C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; ân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Họ tên bố: Nguyễn Văn đ chết ; Họ tên m : Nguyễn Thị T đ chết . Gia đình c 06 anh chị em, bị cáo là con th ba; V : Trần Thị H, sinh năm 1963; con: c 06 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nh nhất sinh năm 1998.

Tiền án: 02

Tại bản án số 62/2007/HSST ngày 16/10/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, xử phạt 08 năm t về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt t ngày 22/9/2013.

Tại bản án số 105/2015/HSST ngày 27/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, xử phạt 8 năm t về tội Tàng tr trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt t 04/11/2021.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Tại bản án số 39/2002/HSST ngày 08/10/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, xử phạt 30 tháng t về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt t ngày 20/12/2004, ngày 20/6/2005 thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm của ản án số 39/2002/HSST.

ị cáo bị bắt, tạm gi , tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi công an huyện Phú Lương.

( C mặt).

2. Họ và tên: Đỗ Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/11/1978; Nơi thường trú: x m L, x C L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; ân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12. Họ tên bố: Đ Văn Chi đ chết . Họ tên m : V Thị i, sinh năm 1954. Gia đình c 05 anh em, bị cáo là con th hai; V : Nịnh Thị T, sinh năm 1984. C 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nh nhất sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

ị cáo bị bắt, tạm gi , tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi công an huyện Phú Lương.

( C mặt).

* Người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan: Chị Nịnh Thị Toán, sinh năm 1984; Địa chỉ: x m Li, x C L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

( C mặt).

* Những người chứng kiến:

- Ông Đặng Tuấn Long, sinh năm 1971.

Địa chỉ: X m , x C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

( Vắng mặt).

- Chị Hà Ngọc Tranh, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn Nà Pì, x Liêm Thủy, huyện Na Rì, tỉnh ắc Kạn

( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 09/01/2024 t công tác Công an x C L ng làm nhiệm vụ tại khu vực x m 9, x C L ng, huyện Phú Lương, Thái Nguyên phát hiện Đ Văn T c biểu hiện liên quan đến ma túy nên đ tiến hành kiểm tra, thu gi trong túi quần phía sau bên phải của Tuấn c 01 (một g i chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine đư c g i bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng, túi quần phía sau bên trái của Tuấn 01 (một đầu lọc thuốc lá bên trong c 01 (một g i chất bột màu trắng pha lẫn màu hồng, nghi là ma túy đư c g i bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng. Tuấn khai là ma túy loại heroine do Nguyễn Tiến nhờ mang đi bán hộ. T công tác đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ Văn T thu gi niêm phong số ma túy nêu trên theo quy định ký hiệu bì niêm phong A1,A2), đồng thời chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT công an huyện Phú Lương để điều tra giải quyết theo thẩm quyền (BL 63-65).

Vào hồi 12 giờ 30 phút c ng ngày, t công tác Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương phối h p với công an x C L ng, huyện Phú Lương khi thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp đối với người, ch ở của Nguyễn Tiến , sinh năm 1957, trú tại X m , x C, huyện P, đ phát hiện thu gi gồm:

- Thu gi phía dưới thảm trên mặt ghế dài kê trong phòng khách nhà ở 01 (một g i chất bột màu trắng lẫn màu hồng nghi là ma túy đư c g i bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng. T công tác đ tiến hành lập biên bản, niêm phong theo quy định, ký hiệu bì niêm phong B1.

- Thu gi trên mặt ghế ngắn kê trong phòng khách 01 một g i chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine đư c g i bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng. T công tác đ tiến hành lập biên bản, niêm phong theo quy định ký hiệu bì niêm phong B2.

- Thu gi trong chậu cây cảnh kê trong sân nhà 01 một g i chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine đư c g i bên ngoài bằng hai lớp, bên ngoài c ng là lớp ni lông màu đen, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng. T công tác đ tiến hành lập biên bản, niêm phong theo quy định ký hiệu bì niêm phong B3.

- Thu gi n c chuồng gà kê trong sân nhà 01 một g i chất bột màu trắng nghi là ma túy loại heroine đư c g i bên ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng. T công tác đ tiến hành lập biên bản, niêm phong theo quy định ký hiệu bì niêm phong B4. (BL 73-75).

C ng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đ tiến hành khám xét khẩn cấp ch ở của Đ Văn T tại x m Làng Ng i, x C L ng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên kết quả, không phát hiện thu gi gì.

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đ tiến hành cân xác định khối lư ng của số chất bột mầu trắng nghi ma tuý loại Heroine thu gi của các đối tư ng khi bắt quả tang và khám xét, kết quả như sau:

- Tiến hành cân xác định khối lư ng 01 một g i chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 c khối lư ng 0,174 gam đ trừ bì, lấy cả 0,174 gam đưa vào bì niêm phong, kí hiệu bì niêm phong là H1 gửi giám định.

01 một g i chất bột màu trắng hồng trong bì niêm phong ký hiệu A2 c khối lư ng 0,072 gam đ trừ bì, lấy cả 0,072 gam đưa vào bì niêm phong theo đúng quy định, kí hiệu bì niêm phong là H3 gửi giám định.

01 một g i chất bột màu trắng hồng trong bì niêm phong ký hiệu B1 c khối lư ng 0,165 gam đ trừ bì, lấy cả 0,165 gam đưa vào bì niêm phong theo đúng quy định, kí hiệu bì niêm phong là H5 gửi giám định.

01 một g i chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B2 c khối lư ng 0,054 gam đ trừ bì, lấy cả 0,054 gam đưa vào bì niêm phong theo đúng quy định, kí hiệu bì niêm phong là H7 gửi giám định chất ma tuý.

01 một g i chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B3 c khối lư ng 2,296 gam đ trừ bì, lấy cả 2,296 gam đưa vào bì niêm phong theo đúng quy định, kí hiệu bì niêm phong là H9 gửi giám định .

01 một g i chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B4 c khối lư ng 0,313 gam đ trừ bì, lấy cả 0,313 gam đưa vào bì niêm phong theo đúng quy định, kí hiệu bì niêm phong là H11 gửi giám định L 78-79).

Tại kết luận giám định số: 216/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine c khối lư ng là: 0,174 gam. Hoàn lại 0,162 gam.

Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu H3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine c khối lư ng là: 0,072 gam. Hoàn lại 0,062 gam.

Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu H5 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine c khối lư ng là: 0,165 gam. Hoàn lại 0,141 gam.

Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu H7 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine c khối lư ng là: 0,054 gam. Hoàn lại 0,41 gam.

Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu H9 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine c khối lư ng là: 2,296 gam. Hoàn lại 2,274 gam.

Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu H11 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine c khối lư ng là: 0,313 gam. Hoàn lại 0,302 gam (BL 83-84).

Quá trình điều tra làm rõ như sau: Vào khoảng 07 giờ 00, ngày 09/01/2024 Nguyễn Tiến ình một mình từ nhà ở x m số 9, x C L ng, huyện Phú Lương, TN đi xuống khu vực đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời. Tại đây, ình gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tu i không quen biết 01(một g i ma túy loại heroine với số tiền 3.000.000đ a triệu đồng . Sau đ , ình cầm số ma túy vừa mua về nhà. Khi về nhà, ình chia số ma túy số ma túy vừa mua đư c ra thành các g i và cất giấu ở nhiều ch khác nhau. Khoảng 10 giờ ngày 09/01/2024 khi đang đi chơi ở trong x m thì ình gặp một người đàn ông không quen biết, quá trình n i chuyện thì người đàn ông này đặt vấn đề mua của ình một g i ma túy heroine với giá 150.000đ một trăm năm mươi nghìn đồng do khi đ ình không mang theo ma túy nên đ h n người đàn ông đ vào khoảng 11 giờ 30 phút sẽ mang ma túy ra đoạn đường dốc ân quân thuộc x m số 9, C L ng, Phú Lương để bán. Đến khoảng 11 giờ, c ng ngày c Đ Văn Tuấn đến nhà ình chơi. ình nhờ Tuấn cầm 01 (một g i ma túy đi ra bán cho người đàn ông đ h n trước đ và lấy số tiền 150.000đ một trăm năm mươi nghìn đồng), Tuấn đồng ý, do hai bên quen biết nhau nên không h a h n trả công gì. Tuấn cầm g i ma túy đi ra kh i nhà ình, trên đường đi đến ch giao ma túy, Tuấn cấu chia g i ma túy ra thành hai g i ý định một g i đem đi bán còn một g i cất giấu định để sử dụng. Khi Tuấn đang đi ở đoạn đường thuộc x m số 9, x C L ng, huyện Phú Lương, Thái Nguyên thì bị Công an x C L ng, huyện Phú Lương vào phát hiện bắt quả tang thu gi vật ch ng.

Tại Cơ quan CSĐT Nguyễn Tiến , Đ Văn T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, ph h p với: iên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu gi vật ch ng, kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người ch ng kiến và các tài liệu ch ng c khác trong hồ sơ vụ án L 63-65, 83-84,140-147).

Vật ch ng vụ án: C bản kê riêng kèm theo (BL 90-92).

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSPL ngày 19/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đ truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Lương đối với các bị cáo Đ Văn T, Nguyễn Tiến về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt đư c quy định tại điểm khoản 1; điểm q khoản 2, điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát gi nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đ Văn T, Nguyễn Tiến phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến . Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến m c án từ 08 Tám đến 09 Chín năm t . Thời hạn t tính từ ngày 09/01/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ Văn T. Xử phạt bị cáo Đ Văn T m c án từ 30 (Ba mươi đến 36 a mươi sáu tháng t . Thời hạn t tính từ ngày 09/01/2024.

Về hình phạt b sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt b sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo ình và bị cáo Tuấn m i bị cáo từ 5.000.000 đ đến 10.000.000 đồng.

Về vật ch ng của vụ án:

Đề nghị trả lại cho bị cáo Đ Văn T hoặc người quản lý h p pháp là chị Nịnh Thị Toán 01 (một xe mô tô màu sơn nâu; số máy: HD1P50FMG3Y0081075; số khung: LC4PCGL48X0004075, BKS: 20F4 – 8989, xe đ c .

Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với vật ch ng, gồm:

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H1, bên trong c 0,162 gam mẫu H1 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H1 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H2, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 1 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H3, bên trong c 0,060 gam mẫu H3 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H3 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H4, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 2 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H5, bên trong c 0,141 gam mẫu H5 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H5 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H6, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 1 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H7, bên trong c 0,041 gam mẫu H7 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H7 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H8, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 2 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H9, bên trong c 2,274 gam mẫu H9 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H9 hoàn trả sau giám định.

- 01 (một bì niêm phong ký hiệu H10, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 3 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H11, bên trong c 0,302 gam mẫu H11 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H11 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H12, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 4 và v giấy g i.

Về án phí: uộc các bị cáo Đ Văn T, Nguyễn Tiến phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo c quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đ Văn T và bị bị cáo Nguyễn Tiến không tranh luận, thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép ma túy của mình đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố, các bị cáo đ nhận th c hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tại phần n i lời sau c ng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng m c án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. o đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

Lời khai nhận của các bị cáo là ph h p với lời khai của người ch ng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu ch ng c khác thu thập đư c trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử c đủ căn c xác định:

Ngày 09/01/2024, tại x m 9, x C L ng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Tiến đ nhờ Đ Văn T mang một g i ma túy loại heroine đi bán. Trong khi đang mang heroine đi bán tại x m 9 thì Đ Văn T bị t công tác của công an x C L ng phát hiện, bắt quả tang thu gi g i heroin c khối lư ng 0,246 gam Heroine. Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương khám xét khẩn cấp người và ch ở của Nguyễn Tiến ở X m , x C, huyện P phát hiện, thu gi 2,828 gam ma túy loại Heroine. T ng khối lư ng ma túy thu gi của Nguyễn Tiến là 3,074 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng và bán lại để kiếm lời.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đ th a m n đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 đối với bị cáo Tuấn); theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo ình , nội dung điều luật như sau: Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) .....

q) Tái phạm nguy hi m.

Xét tính chất m c độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho x hội. Các bị cáo c ng cố ý thực hiện tội phạm nên đều là đồng phạm trong vụ án. ị cáo ình đ từng nhiều lần bị kết án về tội phạm, đến lần phạm tội lần này chưa đư c x a án tích nên lần phạm tội lần này thuộc trường h p “tái phạm nguy hiểm” với tình tiết định khung quy định tại điểm q, khoản 2 Điều 251 ộ luật Hình sự. Hình vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho x hội, ảnh hưởng cho s c kh e con người và là nguyên nhân phát sinh đến nhiều tội phạm khác...gây mất trật tự trị an tại địa phương. o đ , cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo bằng pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho x hội.

Trong vụ án này, các bị cáo đều là một công dân c đủ nhận th c để hiểu đư c tác hại của ma túy và nh ng quy định của pháp luật liên quan đến ma túy. Song để th a m n nhu cầu ích kỷ của bản thân c ng như vì hám l i bất chính, các bị cáo đ bất chấp tất cả để mua bán trái phép ma túy, trong khi bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, đ và đang phải chịu hậu quả xấu của tình trạng nghiện ma túy.

Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nh trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo ình đư c gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 7, sau đ làm nghề tự do, bị cáo là đối tư ng nghiện ma túy, bị cáo đ nhiều lần bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng không lấy đ làm bài học để làm lại cuộc đời mà còn tiếp tục thực hiện tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, c ng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy các bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ việc đánh giá tính chất, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải xét xử các bị cáo bằng án phạt t , buộc các bị cáo phải cách ly x hội một thời gian ph h p mới đủ điều kiện để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt b sung: o các bị cáo thực hiện tội phạm nhằm mục đích kiếm lời bất chính nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt b sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo, phạt m i bị cáo từ 5.000.000 đ đến 10.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Về vật ch ng của vụ án:

- Đối với 01 (một xe mô tô màu sơn nâu; số máy: HD1P50FMG3Y0081075; số khung: LC4PCGL48X0004075, BKS: 20F4 – 8989, xe đ c tạm gi của bị cáo Tuấn. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là phương tiện mà bị cáo Tuấn sử dụng để phạm tội, theo quy định phải tịch thu. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đây là chiếc xe mô tô mà bị cáo đ mua của một người đàn ông mà bị cáo không nhớ người đ địa chỉ ở đâu, tiền để mua chiếc xe đ là tiền chung của bị cáo với v bị cáo là chị Nịnh Thị Toán, sau khi mua do xe đ c nên không tiến hành đăng ký sang tên. Tại phiên tòa chị Toán trình bày chiếc xe đ là chiếc xe duy nhất của gia đình chị, tiền mua chiếc xe là tiền của chị, ngày 09/01/2024 chồng chị là bị cáo Tuấn d ng xe đi bán ma túy không n i chi chị nên chị không biết. Cả gia đình chị chỉ c chiếc xe đ là duy nhất để là phương tiện đi lại và kiếm sống nên chị đề nghị Hội đồng xem xét trả lại cho chị quản lý, sử dụng. o đ , Hội đồng xét xử thấy cần phải trả lại cho Nịnh Thị Toán để quản lý, sử dụng.

Đối với vật ch ng, gồm:

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H1, bên trong c 0,162 gam mẫu H1 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H1 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H2, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 1 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H3, bên trong c 0,060 gam mẫu H3 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H3 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H4, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 2 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H5, bên trong c 0,141 gam mẫu H5 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H5 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H6, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 1 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H7, bên trong c 0,041 gam mẫu H7 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H7 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H8, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 2 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H9, bên trong c 2,274 gam mẫu H9 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H9 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H10, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 3 và v giấy g i.

- 01 (một bì niêm phong ký hiệu H11, bên trong c 0,302 gam mẫu H11 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H11 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H12, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 4 và v giấy g i.

Đây là các vật ch ng không còn giá trị ử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo ình và bị cáo Tuấn bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

. Về nguồn gốc số ma túy thu gi : Bị cáo ình khai mua tại khu vực đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên. o ình không biết rõ họ, tên, địa chỉ, Cơ quan điều tra không c đủ cơ sở xác minh làm rõ nên Hội đồng không xem xét.

. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, c mặt các bị cáo Đ Văn T, Nguyễn Tiến và người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan chị Nịnh Thị Toán tại phiên tòa, báo cho biết c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn c pháp luật:

- Căn c các Điều: 326; 106; 136; 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn c khoản 1 và điểm q khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự;

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đ Văn T và bị cáo Nguyễn Tiến

phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy“.

2.1. Về hình phạt chính:

- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến . Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến 08 Tám năm t . Thời hạn t tính từ ngày 09/01/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ Văn T. Xử phạt bị cáo Đ Văn T 30 (Ba mươi tháng t . Thời hạn t tính từ ngày 09/01/2024.

2.1. Về hình b sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo ình số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng; Phạt bị cáo Tuấn số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để sung quỹ nhà nước.

3. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ra quyết định tạm giam bị cáo Đ Văn T và bị cáo Nguyễn Tiến 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.

4. Về vật ch ng:

4.1. Trả lại cho chị Nịnh Thị Toán quản lý, sử dụng 01 (một xe mô tô màu sơn nâu; số máy: H 1P50FMG3Y0081075; số khung: LC4PCGL48X0004075, BKS: 20F4 – 8989, xe đ c .

4.2. Tịch thu tiêu hủy đối với vật ch ng, gồm:

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H1, bên trong c 0,162 gam mẫu H1 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H1 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H2, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 1 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H3, bên trong c 0,060 gam mẫu H3 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H3 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H4, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 2 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H5, bên trong c 0,141 gam mẫu H5 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H5 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H6, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 1 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H7, bên trong c 0,041 gam mẫu H7 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H7 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H8, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 2 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H9, bên trong c 2,274 gam mẫu H9 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H9 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H10, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 3 và v giấy g i.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H11, bên trong c 0,302 gam mẫu H11 còn lại sau giám định và v bao g i mẫu H11 hoàn trả sau giám định.

- 01 một bì niêm phong ký hiệu H12, bên trong c 01 v bì niêm phong kí hiệu 4 và v giấy g i.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 5 năm 2024 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương ).

5. Về án phí: Bị cáo Đ Văn T và bị cáo Nguyễn Tiến m i bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.

6. Án xử công khai sơ thẩm, c mặt các bị cáo Đ Văn T, Nguyễn Tiến và người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan chị Nịnh Thị Toán tại phiên tòa, báo cho biết c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ