- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 13/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Cạn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Viết Tác
2. Ông Triệu Văn Thiết
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Du - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Khang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 17/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST - HS ngày 30/7/2024 đối với bị cáo:
Hà Văn C (tên gọi khác: không), sinh ngày 26 tháng 11 năm 1974, tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú (Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay): Thôn N xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đức M và bà Hứa Thị L; vợ: chưa có, con: không; tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 12/6/2024, từ ngày 12/6/2024 bị cáo được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 04/6/2024, tổ công tác Đội cảnh sát ĐTTP về kinh tế và ma túy, Công an huyện C phối hợp với Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện. bắt quả tang Hà Văn C, sinh năm 1974, trú tại Thôn N xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ:
C tự nguyện giao nộp từ túi áo đằng trước bên trái đang mặc 01 (Một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có mẫu chất dạng cục và bột màu trắng, nghi là ma túy. Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng trên vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (Thuốc thử heroine) do Bộ công an sản xuất, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím, phản ứng dương tính với chất ma túy loại Heroine. Niêm phong vào phong bì ký hiệu C1.
Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng hồi 14 giờ 30 ngày 04/6/2024, xác định:
+ Cân 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất dạng cục và bột màu trắng nghi là chất ma túy có tổng khối lượng là 0,16g (Không phẩy một sáu gam). Cân riêng toàn bộ mẫu chất dạng cục và bột màu trắng có khối lượng là 0,11g (không phẩy một một gam). Niêm phong trong 01 (Một) phong bì mới ký hiệu C2 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn 01 (Một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu C1 được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu C3 nhập kho vật chứng Công an huyện C để xử lý theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số 200/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận:
- Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất;
- Mẫu chất dạng cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C2 có khối lượng là 0,11g (Không phẩy một một gam).
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu C2 còn lại 0,07g (không phẩy không bảy gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T124 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Quá trình điều tra, truy tố Hà Văn C khai nhận: 01 (Một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có mẫu chất dạng cục và bột màu trăng là ma túy, loại Heroine do C mua về với mục đích sử dụng cá nhân. Cụ thể: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/6/2024 C đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết để đến xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến khu Chợ xã N thì C xuống xe. Tại đây C thấy một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ nên đã hỏi mua ma túy và được người đàn ông trên đồng ý bán. C đưa cho người đàn ông trên số tiền 50.000₫ (Năm mươi nghìn đồng), rồi người đàn ông đưa lại cho C một gói ma túy được gói bởi loại giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có cục và bột màu trắng, ma túy. Mua xong ma túy C đút gói ma túy vào túi áo đằng trước bên trái C đang mặc rồi đi bộ quay về, khi về đến đoạn đường thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Tổ công tác công an huyện C và Công an xã Đ bắt quả tang, thu giữ số ma túy vừa mua được như đã nêu ở trên.
Về vật chứng: Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của Hà Văn C sau khi giảm định, mẫu chất trong phong bì C2 còn lại 0,07g (Không phẩy không bảy gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào trong phong bì mới kí hiệu T124 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì ký hiệu C3 bên trong chứa phong bì C1 và giấy gói ban đầu. Hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Tại bản cáo trạng số: 26/CT-VKSCĐ ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn, truy tố bị cáo Hà Văn C về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên - Đại diện viện kiểm sát huyện C, tỉnh Bắc Kạn thực hành quyền công tố đọc bản luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù (được trừ đi thời gian đã tạm giữ Hà Văn C từ ngày 04/6/2024 đến ngày 12/6/2024). Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS:
- 01 (một) Phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T124 (bên trong phong bì chứa 0,07g ma túy loại Heroine cùng phong bì C2 và bao gói cũ) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan CSĐT Công an huyện C;
- 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu C3, bên trong chứa phong bì C1 và giấy gói ban đầu.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136/BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên
Bị cáo được nói lời sau cùng trước khi nghị án bị cáo thừa nhận được tàng trữ 0,11 g Heroine là sai và vi phạm pháp luật hình sự, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân huyện C trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều đúng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hồi 10 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, tại khu vực thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Đội cảnh sát ĐTTP về kinh tế và ma túy, Công an huyện C và Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên người Hà Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép một gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,11g (Không phẩy một một gam) với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của Hà Văn C nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS. Điều luật có nội dung:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
….
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
..........
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Trước lần xét xử này bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo sử dụng ma tuý từ năm 2023.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân huyện C tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng số 26/CT- VKSCĐ ngày 16/7/2024 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù, đề nghị về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí là phù hợp.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy ngày 04/6/2024 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là 0.11g loại Heroine với mục đích sử dụng cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết, nhận thức về pháp luật. Do vậy để đảm bảo tính nghiêm minh công bằng pháp luật hình sự cần phải áp dụng mức án phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đi tập trung cải tạo một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, bị cáo là người sử dụng ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) Phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T124 (bên trong phong bì chứa 0,07g ma túy loại Heroine cùng phong bì C2 và bao gói cũ) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan CSĐT Công an huyện C cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu C3, bên trong chứa phong bì C1 và giấy gói ban đầu không có giá trị cần được tiêu hủy;
Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ họ tên, địa chỉ theo lời khai của Hà Văn C là người đã bán ma túy (Heroine) cho C tại khu vực chợ thuộc xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra và tại phiên toà Hà Văn C không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ theo lời khai của Hà Văn C là người đã cho C đi nhờ xe đến xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Kết thúc điều tra và tại phiên toà C không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ xem xét xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn Cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn C: 15 ( Mười lăm) tháng tù được trừ đi thời gian bị cáo đã tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 12/6/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án.
Không phạt bổ sung bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 106 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) Phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T124 (bên trong phong bì chứa 0,07g ma túy loại Heroine cùng phong bì C2 và bao gói cũ) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan CSĐT Công an huyện C.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu C3, bên trong chứa phong bì C1 và giấy gói ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn ngày 30 tháng 7 năm 2024)
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Sở Tư pháp Bắc Kạn; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - THADS huyện C; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Cạn |