- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đoàn L về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn L.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HS-PT Ngày: 03 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đình Nghệ
Các Thẩm phán:
Ông Hồ Văn Luông
Bà Lê Thị Thọ
- Thư kY phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 85/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Đoàn L do có kháng cáo của bị cáo Đoàn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Đoàn L, sinh năm 1974 tại huyện H, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Ấp Sơn Phú, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 01/12; con ông Đoàn P và bà Phan T; chung sống như vợ chồng với ông Nguyễn T và có 02 người con; Tiền án: Ngày 18/12/2019 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang xử phạt 25.000.000 đồng về tội Đánh bạc, nộp phạt ngày 14/3/2023; Tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/6/2018 bị Công an huyện A, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng (đã nộp phạt). Bị cáo tại ngoại.
Ngoài ra, còn có 01 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút, ngày 07/02/2023 Công an xã T, thành phố N bắt quả tang tụ điểm đánh bạc, dưới hình thức đánh bài binh 06 lá ăn thua bằng tiền tại ấp Sơn Phú, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Bắt quả tang 06 đối tượng gồm: Đoàn L, Nguyễn PH, Dương H, Nguyễn L, Dương L, Nguyễn Y.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 11 giờ ngày 07/02/2023, 04 đối tượng gồm: Dương L, Nguyễn L, Nguyễn PH và Dương H ngồi uống nước chung với nhau tại quán nước KH thuộc ấp S, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang thì cả 04 người thống nhất đánh bài ăn tiền, nên bà L lấy hai bộ bài tây và bốn cái bao ny lông ra bờ dừa đường đi chung của các hộ dân cùng nhau đánh bài binh 06 lá ăn thua bằng tiền. Hình thức chơi giao cho một người làm cái, chia ra mỗi tụ 06 lá bài, trong 06 lá bài chia làm 02 chi, mỗi chi chia làm 03 lá tính ăn thua với nhà làm cái, quy định lớn nhất là 3 tây, tiếp theo là 9 nút. Nếu một chi thắng và một chi thua thì hòa nhau, nếu thua 02 chi thì thua hết hoặc thắng 02 chi là thắng hết, mỗi tụ bài đặt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng. Một người làm cái 03 ván bài rồi xoay vòng. Bà L, bà L1, bà PH và ông H chơi được một lúc thì bà Nguyễn Y, ông Trương H cùng các bị cáo Phan P và Đoàn L đến cùng tham gia đánh bài ăn tiền. Chơi đến 12 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã T bắt quả tang 06 đối tượng. Ông Trương H bỏ chạy trốn thoát, đến ngày 23/02/2023 thì đến Công an xã T trình diện. Bị cáo Phan P cũng bỏ chạy nhưng trong quá trình chạy đã bị té ngã gãy tay, lực lượng công an phát hiện cùng người dân hỗ trợ đưa bị cáo đến Bệnh viện đa khoa thành phố N điều trị.
Quá trình điều tra xác định các đối tượng tham gia đánh bạc với số tiền cụ thể như sau:
1. Bị cáo Đoàn L mang theo số tiền 200.000 đồng để tham gia đánh bạc đến lúc bị bắt thắng 50.000 đồng, để tại chiếu bạc 100.000 đồng và thu giữ trên người 150.000 đồng.
2. Bị cáo Phan P mang theo số tiền 350.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến lúc bị bắt thua 30.000 đồng, để lại 100.000 đồng tại chiếu bạc, cất trong túi 220.000 đồng.
3. Nguyễn PH mang theo số tiền 150.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến lúc bị bắt thắng được 120.000 đồng. PH để tại chiếu bạc 150.000 đồng và thu giữ trên người 120.000 đồng.
4. Dương H mang theo số tiền 80.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến lúc bị bắt thua 20.000 đồng, để tại chiếu bạc 50.000 đồng và thu giữ trên người 10.000 đồng.
5. Nguyễn L mang theo số tiền 1.290.000 đồng, sử dụng 290.000 đồng để tham gia đánh bạc, bị thu giữ 1.290.000 đồng.
6. Dương L mang theo số tiền 110.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến khi bị bắt đã thua hết.
7. Nguyễn Y mang theo số tiền 4.350.000 đồng là tiền Y vừa thu của các hụi viên tham gia góp hụi. Y tham gia đánh bạc nhưng hùn chung tụ với Lvà thoả thuận Lsẽ chung chi tiền thắng thua trước, sau đó sẽ thanh toán lại sau.
8. Trương H mang theo số tiền 50.000 đồng để tham gia đánh bạc, đến khi bị bắt bỏ lại tại chiếu bạc 40.000 đồng, còn 10.000 đồng quá trình bỏ chạy đã bị rớt mất.
Công an xã T thu giữ tại chiếu bạc số tiền 440.000 đồng. Số tiền tham gia đánh bạc của các đối tượng trong ngày 07/02/2023 là 1.230.000 đồng.
Về xử lY vật chứng: Công an xã T đã trao trả cho Nguyễn PH 01 điện thoại di động samsung màu xanh rêu; trao trả cho Dương L 01 điện thoại di động samsung màu hồng bị bể màn hình; trao trả cho Nguyễn Y số tiền 4.350.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung màu bạc S21; 01 điện thoại di động bàn phím Nokia màu đỏ; trao trả cho Nguyễn L số tiền 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Samsung màu hồng; trao trả cho Đoàn L 01 điện thoại di động Samsung màu đỏ (bị ướt nước); trao trả cho Dương H 01 điện thoại di động bàn phím Nokia màu trắng đen và 01 xe mô tô biển số 95E1-443.55; trao trả cho Trương H01 xe mô tô biển số 65F4-9667; trao trả cho Trương PH 01 xe mô tô biển số 95E1-811.36 do không liên quan đến vụ án. Chuyển số tiền Việt Nam 1.230.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Công an thành phố N mở tại Kho bạc Nhà nước thành phố N.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Áp dụng Điều 23, Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Đoàn L phạm tội Đánh bạc.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 30, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Xử phạt bị cáo Đoàn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với 01 bị cáo khác; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo Đoàn L kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa đề nghị: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn L xin hưởng án treo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như nội dung bản án sơ thẩm. Đối chiếu lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 07/02/2023 tại ấp S, xã T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang, các bị cáo Phan P, Đoàn L cùng các đối tượng Nguyễn PH, Dương H, Nguyễn L, Dương L, Nguyễn Y thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bài binh 06 lá ăn thua trực tiếp bằng tiền, với tổng số tiền tham gia đánh bạc chứng minh được là 1.230.000 đồng. Với hành vi mà bị cáo Đoàn L đã thực hiện, kết hợp với nhân thân bị cáo có tiền án về tội Đánh bạc, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo Đoàn L, Hội đồng xét xử xét thấy:
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo quy định. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện chấp hành nộp án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm, đây là nghĩa vụ bị cáo phải thực hiện, không được xem là tình tiết giảm nhẹ mới.
Nhân thân của bị cáo có 01 tiền án về tội Đánh bạc theo bản án số 64/2019/HS-ST ngày 18/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Hậu Giang. Sau khi bị cáo bị bắt trong vụ án này thì bị cáo mới chấp hành nộp phạt theo quyết định của bản án. Xét thấy bị cáo đã từng bị kết án về hành vi đánh bạc, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, nên bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng cũng không có tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
. Về án phí: Bị cáo Đoàn L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn L.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn L phạm tội Đánh bạc.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đoàn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Đoàn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Về các vấn đề khác:
Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002003 ngày 26/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Hậu Giang và giải quyết trong quá trình thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - CA tỉnh Hậu Giang (PV06); - TAND, VKSND, CQĐT, Chi cục THADS thành phố N; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Đình Nghệ |