- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Lê Thanh Đăng K xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Thanh Đăng K. Cho ông Lê Thanh Đăng K được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim T.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-4-2024 "V/v Tranh chấp Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường.
Ông Trần Văn Mỹ Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Yến Nhi, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Thanh Đăng K, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ liên hệ: Số H, đường N, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1991; địa chỉ: Số H, đường N, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 13/11/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Lê Thanh Đăng K trình bày như sau:
Về hôn nhân: Ông K và bà T tự tìm hiểu được hơn 06 tháng thì đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Trong quá trình chung sống, ông bà sống hạnh phúc đến tháng 3/2020 thì bà T và mẹ chồng có mâu thuẫn nhau mẹ chồng, ông bà không hợp nhau trong cách sống, bà T xúc phạm ông mặc dù ông K đã khuyên nhiều lần nhưng bà T không sửa chữa, sau đó cha mẹ hai bên đã gặp nhau để hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn của vợ chồng ông bà nên từ tháng 11/2023 ông bà đã sống ly thân cho đến nay, trong khoảng thời gian sống ly thân ông bà không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay ông K yêu cầu ly hôn vì xác định không còn tình cảm với bà T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Lê Khả H, sinh ngày 07/4/2018, hiện nay đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, ông K yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, ông K thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về con chung: Ông K yêu cầu giao cháu Lê Khả H, sinh ngày 07/4/2018 cho bà T nuôi dưỡng, ông K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, thời hạn bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/4/2024.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T nhận được Thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa, bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng, người tham gia tố tụng bà T vắng mặt là chưa chấp hành đúng quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự; thời hạn đưa vụ án ra xét xử là đảm bảo về thời hạn. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông K. Cho ông K được ly hôn với bà T.
Về con chung: Giao cháu Lê Khả H, sinh ngày 07/4/2018 cho bà T nuôi dưỡng, ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Buộc ông K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố V được thụ lý phù hợp về thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Ông K và bà T tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông bà sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo ông K xác định nguyên nhân mâu thuẫn do bà T mâu thuẫn với mẹ chồng, ông bà không hợp nhau trong cách sống, bà T xúc phạm ông mặc dù ông K đã khuyên nhiều lần nhưng bà T không sửa chữa vì vậy ông K yêu cầu ly hôn vì không còn tình cảm với bà T. Xét thấy ông K và bà T có một khoảng thời gian sống ly thân. Trong khoảng thời gian này, ông K xác định ông bà không còn quan tâm, chăm sóc và thăm hỏi nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho bà T tham gia hòa giải nhiều lần để các bên tháo gỡ những mâu thuẫn nhưng bà T không tham dự và cũng không trình bày ý kiến phản bác đối với yêu cầu xin ly hôn của ông K. Ngoài ra, tại phiên tòa ông K xác định trường hợp nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu ly hôn thì ông vẫn không thể tiếp tục chung sống với bà T được nữa do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông K là phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Ông K xác định ông bà có 01 con chung tên Lê Khả H, sinh ngày 07/4/2018, hiện nay đang sống chung với bà T. Ông K yêu cầu giao cháu H cho bà T nuôi dưỡng, ông K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, thời hạn bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/4/2024.
Xét điều kiện nuôi con: Xét thấy, từ khi ông bà sống ly thân thì cháu H do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay, tại phiên tòa ông K xác định trong khoảng thời gian sống ly thân cháu H do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng rất tốt đảm bảo cho cháu phát triển, khi ông đến thăm con không bị ngăn cản. Do đó, để đảm bảo về chỗ ở ổn định, đảm bảo về việc chăm sóc, học tập, vui chơi, để đảm bảo sự phát triển về tâm sinh lý vì vậy tiếp tục giao con chung cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông K tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng 1.500.000 đồng/tháng, bà T được Tòa án thông báo về yêu cầu nuôi con, cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng không có ý kiến vì vậy buộc ông K phải cấp dưỡng nuôi cháu H mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, thời hạn bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/4/2024.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét quan điểm trình bày của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Buộc ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, bà T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Thanh Đăng K. Cho ông Lê Thanh Đăng K được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim T.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Khả H, sinh ngày 07/4/2018 cho bà T nuôi dưỡng và giáo dục, ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, thời hạn bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/4/2024.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc ông Lê Thanh Đăng K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ. Ông K được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí nộp ngày 12/01/2024 theo biên lai thu số N0 0006532 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long thành tiền án phí. Ông K phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nữa mới đủ.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án Tỉnh; - Viện Kiểm Sát TPVL; - Thi hành án TPVL; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Minh Trường |