- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án Ngân hàng B - Lâm Bá S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yeâu caàu khôûi kieän cuûa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2024/DS-ST Ngày: 11 - 6 - 2024 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc San.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Long và ông Nguyễn Văn Mười.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2023/TLST – DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐST - DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST – DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (B)
Địa chỉ: Số A T, P. L, Q. H, Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Minh T1 (Có mặt).
Phó Giám đốc Phòng G - Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Văn bản ủy quyền số 881a/BIDV.BH ngày 15/5/2024).
Số 105 N, thị trấn K, huyện K, Đ.
- Bị đơn:
Ông Lâm Bá S (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện K, Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Lê Minh T1 trình bày: Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh B1 - Phòng G ( sau đây gọi tắt là ngân hàng ) với ông Lâm Bá S đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2022/7677055/HĐTD ngày 29/6/2022 với nội dung: Ngân hàng cho ông Lâm Bá S vay số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất trong hạn là 10,5%/năm, trả lãi hàng quý. Mục đích vay để chi tiêu, phục vụ sản xuất. Sau khi ký kết hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân cho ông S số tiền vay 450.000.000đ. Tài sản thế chấp để bảo đảm các khoản vay theo hợp đồng nêu trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo 02 giấy chứng nhận QSD đất là: Giấy chứng nhận QSD đất số CU 361758, do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 27/5/2020, mang tên ông Lâm Bá S và Giấy chứng nhận QSD đất số BN 600040, do UBND huyện K cấp ngày 16/6/2014, mang tên ông Lâm Bá S. Việc thế chấp được ký kết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/7677055/HĐBĐ ngày 20/8/2020. Trong thời gian thực hiện hợp đồng ông Lâm Bá S không trả nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng, mặc dù hiện nay đã quá thời hạn trả nợ. Tính đến ngày ngân hàng làm đơn khởi kiện (Ngày 10/11/2023) ông Lâm Bá S còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 487.784.145đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi tư ngàn một trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc là 450.000.000đ, nợ lãi là 37.784145đ (Lãi trong hạn là 28.867.808đ, lãi quá hạn là 8.916.337đ) Do ông Lâm Bá S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày xét xử (Ngày 11/6/2024) là 532.480.104đ (Năm trăm ba mươi hai triệu bốn trăm tám mươi ngàn một trăm linh bốn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 450.000.000đ, nợ lãi là 82.480.104đ (Lãi trong hạn là 56.958.904đ, lãi quá hạn là 22.524.650, lãi của lãi là 2.996.550đ), đồng thời phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 12/6/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu được quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông S để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. * Quá trình giải quyết vụ án ông Lâm Bá S vắng mặt không có lý do, mặc dù Tòa án đã tiến hành triệu tập nhiều lần. Để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cụ thể như sau: Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 81, tờ bản đồ số 25, diện tích 339,6m2, đã được cấp Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất số CU 361758, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 27/5/2020 mang tên ông Lâm Bá S. Địa chỉ thửa đất tại thôn G, xã T, huyện K, có vị trí tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường, phía Tây giáp đất bà H, phía Nam giáp đường, Phía Bắc giáp đất suối cạn. Tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây cấp 4 lợp tôn, xây gạch, không xác định được diện tích do tại thời điểm thẩm định không có mặt đương sự nên không tiếp cận được tài sản. Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 02, tờ bản đồ số 21, diện tích 15.350m2, đã được cấp Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận QSD đất số BN 600040, do UBND huyện K cấp ngày 16/6/2014 mang tên ông Lâm Bá S. Địa chỉ thửa đất tại thôn G, xã T, huyện K, có vị trí tứ cận: Phía Đông giáp đất ông L, phía Tây giáp suối, phía Nam giáp đất bà C, phía Bắc giáp đất ông C1. Trên đất có trồng cây cà phê, nhãn, hiện trạng đã bị hư hỏng + 01 ngôi nhà tạm mái lợp tôn, nên láng xi măng, không xác định được diện tích. Tại phần tranh luận, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, trong đó trình bày: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ và đúng các quy định của bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157 BLTTDS; các Điều 463, 466, 468 BLDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ. Buộc ông Lâm Bá S phải trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm tính đến ngày xử xử 11/6/2024 là: 532.480.104đ (Năm trăm ba mươi hai triệu bốn trăm tám mươi ngàn một trăm linh bốn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 450.000.000đ, nợ lãi là 82.480.104đ. Kể từ ngày 12/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Lâm Bá S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng
Khi ông S đã trả nợ đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Đ có nghĩa vụ trả lại toàn bộ tài sản thế chấp cho ông S.
Trường hợp ông S không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP Đ thì tài sản thế chấp sẽ được yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ vay.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Lâm Bá S phải chịu chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1 ]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Lâm Bá S vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ, HĐXX thấy rằng: Giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ với ông Lâm Bá S đã xác lập giao dịch vay tiền thông qua hợp đồng tín dụng. Do ngân hàng cho rằng ông S không trả nợ đúng hạn nên đã khởi kiện tại Tòa án. Vì vậy HĐXX xác định quan hệ pháp luật giữa ngân hàng với ông S là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Krông Năng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS. [ 2 ]. Về nội dung tranh chấp:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả tiền:
Tại đơn khởi kiện Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu ông Lâm Bá S trả số tiền nợ gốc 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh, HĐXX xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, tống đạt thông báo thụ lý cũng như kết quả phiên họp giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và các tài liệu chứng cứ kèm theo cho các đương sự. Tuy nhiên ông S không có mặt để làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi khi nhận được các văn bản của Tòa án. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp n để làm căn cứ giải quyết vụ án. Cụ thể như sau: + Về số tiền vay: Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập đã có cơ sở xác định: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh B2 (Nay là Chi nhánh B1) – Phòng G đã ký kết với ông Lâm Bá S Hợp đồng tín dụng số 01/2022/7677055/HĐTD ngày 29/6/2022 với nội dung: Ngân hàng cho ông Lâm Bá S vay số tiền 450.000.000đ. Ông S đã nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng.
+ Về số tiền đã trả: Hiện không có tài liệu nào để xác định ông S đã trả nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết thì tính đến thời điểm ngân hàng khởi kiện tại Tòa án. khoản vay của ông S đối với ngân hàng đã quá hạn trả nợ. Tuy nhiên ông S vẫn chưa trả xong nợ cho ngân hàng và cũng không bàn giao tài sản thế chấp cho ngân hàng để xử lý nợ là đã vi phạm nghĩa vụ theo cam kết. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn thanh toán số nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng là hoàn toàn có căn cứ.
2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp: Tài sản mà ông Lâm Bá S sử dụng để bảo đảm các khoản vay khi ký kết hợp đồng tín dụng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo 02 giấy chứng nhận QSD đất là: Giấy chứng nhận QSD đất số CU 361758, do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 27/5/2020, mang tên ông Lâm Bá S và Giấy chứng nhận QSD đất số BN 600040, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 16/6/2014, mang tên ông Lâm Bá S. Việc thế chấp được ký kết tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/7677055/HĐBĐ ngày 20/8/2020.
Do tài sản mà ông T2 đã thế chấp tại ngân hàng được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Vì vậy nếu ông S khoâng trả hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản mà ông S đã thế chấp cho ngân hàng để thu hồi nợ.
[ 3 ]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, để đảm bảo quyền lợi cho bên bị vi phạm, HĐXX xét thấy cần áp dụng các Điều 280, 295, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự; các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Đ, buộc ông Lâm Bá S phải trả cho ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi suất tính đến ngày xét xử là 532.480.104đ (Năm trăm ba mươi hai triệu bốn trăm tám mươi ngàn một trăm linh bốn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 450.000.000đ, nợ lãi là 82.480.104đ. Ông Lâm Bá S tiếp tục phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quá hạn tại hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng, kể từ ngày 12/6/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
[ 4 ]. Về án phí: Ông Lâm Bá S là người có lỗi trong hợp đồng vay tài sản và phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên sẽ được hoàn trả số tiền án phí đã nộp.
[ 5 ]. Về chi phí tố tụng: Để đảm bảo việc giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Chi phí xem xét thẩm định tài sản là 1.250.000đ. Đại diện nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 280, 295, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự; các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
1. Chấp nhận toàn bộ yeâu caàu khôûi kieän cuûa Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Buộc ông Lâm Bá S phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tổng số tiền 532.480.104đ (Năm trăm ba mươi hai triệu bốn trăm tám mươi ngàn một trăm linh bốn đồng), bao gồm: Nợ gốc là 450.000.000đ, nợ lãi là 82.480.104đ.
Kể từ ngày 12/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Lâm Bá S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 01/2022/7677055/HĐTD ngày 29/6/2022. Sau khi ông Lâm Bá S trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có nghĩa vụ trả lại cho ông S Giấy chứng nhận QSD đất số CU 361758, do Sở Tài nguyên và môi trường cấp ngày 27/5/2020, mang tên ông Lâm Bá S và Giấy chứng nhận QSD đất số BN 600040, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 16/6/2014, mang tên ông Lâm Bá S.
Trường hợp ông Lâm Bá S khoâng trả hoặc trả không hết nợ, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp laø Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà ông Lâm Bá S đã thế chấp cho ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2020/7677055/HĐBĐ ngày 20/8/2020, để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. 2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Lâm Bá S phải nộp toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) sau khi thu được từ ông Lâm Bá S.
3. Về án phí: Ông Lâm Bá S phải nộp 25.299.000đ (Hai mươi lăm triệu hai trăm chín mươi chín ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 11.755.000đ (Mười một triệu bảy trăm năm mươi lăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Năng theo biên lai số AA/2022/0002384 ngày 30/11/2023.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt coù quyeàn khaùng caùo bản án sơ thẩm trong haïn laø 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Tröôøng hôïp bản án ñöôïc thi haønh aùn theo quy định taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï, thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoaû thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh theo qui ñònh taïi caùc Ñieàu 6, 7 vaø 9 Luaät thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn daân söï thöïc hieän theo Ñieàu 30 Luaät thi haønh aùn daân söï.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tænh Ñaék Laék; - VKSND huyeän Kroâng Naêng; - THADS huyeän Kroâng Naêng; - Đương sự; - Löu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) BÙI NGỌC SAN |