vanban.org

Bản án 24/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 09/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Hình phạt chính: 1 Xử phạt bị cáo Đinh Văn S 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn S - Mua bán, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HSST
Ngày 09 - 6 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Thu Hương;

Bà Vi Thị Quý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2023/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Đinh Văn S, tên gọi khác: Không; sinh ngày 08 tháng 8 năm 1993, tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn lớp 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn D (đã chết) và bà Dương Thị P; có vợ: Hoàng Thị T2, sinh năm 1987; và con: Không có; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 25/2015/HSST ngày 15/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo Sơn 06 năm tù. Bị cáo đã chấp xong hình phạt tù vào ngày 21/12/2020, chấp hành xong án phí và các quyết định khác của Bản án nhưng chưa hết thời hạn đương nhiên được xóa án tích theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự. Do đó căn cứ điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự, lần phạm tội này thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm; tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 28/12/2022 cho đến nay, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nông Ngọc L, sinh năm 1994, vắng mặt.

2. Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1984, vắng mặt.

3. Anh Đinh Văn V, sinh năm 1995, vắng mặt.

4. Anh Bế Thành G, sinh năm 2000, vắng mặt.

5. Anh Đinh Văn K, sinh năm 1999, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 28/12/2022, tổ Công tác Công an xã Tri Phương phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Tràng Định đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn B, xã T, huyện T1, tỉnh Lạng Sơn phát hiện tại nhà Đinh Văn S có nhóm thanh niên đang tụ tập gồm: Đinh Văn S và Bế Thành G, Đinh Văn K và Đinh Văn V có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì Bế Thành G vứt từ tay phải ra 01 gói giấy trắng kẻ ô ly rồi bỏ chạy thoát, khi mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroin. Kiểm tra Đinh Văn S thì phát hiện tại túi quần đằng sau bên phải đang mặc có 01 chiếc ví da màu đen, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin và số tiền Việt Nam 1.700.000 đồng. S khai nhận: S vừa bán cho G 02 gói ma túy Heroin thì bị Tổ công tác kiểm tra, phát hiện, G đã vứt 01 ma túy Heroin tại hiện trường rồi bỏ chạy; 01 gói giấy thu giữ ở túi quần sau S đang mặc cũng là ma túy Heroin. Kiểm tra V và K không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã đưa S và các đối tượng và tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật. Cùng ngày 28/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Văn S, kết quả thu giữ được: 01 gói chất bột màu trắng gói bằng tờ lịch, 18 mảnh giấy trắng có dòng kẻ diện 2cm x 2cm và 01 mảnh dao lam thu giữ tại đầu giường trong phòng ngủ của S; 01 xe mô tô biển kiểm soát 12T1-156.46.

Tại bản Kết luận giám định số 138/KL-KTHS, ngày 30/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

- Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy màu trắng kẻ ô ly do Bế Thành G vứt lại là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,003 gam (đã trừ bì).

- Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc màu vàng thu giữ tại túi quần sau Đinh Văn S là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,020 gam (đã trừ bì).

- Chất bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy thu giữ khi khám xét chỗ ở của Đinh Văn S là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,091 gam (đã trừ bì).

Tại bản kết luận số 157/KL-KTHS ngày 04/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền 1.700.000 đồng tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn S khai nhận do bản thân nghiện chất ma túy Heroin nên đã 02 lần điều khiển xe mô tô BKS 12T1-156.46 xuống khu vực cây xăng thuộc thị trấn N, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn mua chất ma túy với một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đem về sử dụng và chia nhỏ bán kiếm lời, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 25/12/2022, Đinh Văn S mua 01 gói ma túy Heroin giá 1.000.000 đồng với người đàn ông trên đem về sử dụng và chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện để kiếm lời, cụ thể:

- Khoảng 20 giờ ngày 25/12/2022, tại trước cửa nhà, S bán cho Nông Ngọc L, 01 gói ma túy giá 200.000 đồng.

- Khoảng 09 giờ ngày 26/12/2022, tại trước cửa nhà, S bán cho Hoàng Văn Q, 01 gói ma túy giá 200.000 đồng.

Ngoài ra, do có quan hệ họ hàng với Đinh Văn K và Đinh Văn V nên S đã 03 lần cung cấp chất ma túy Heroin cho K và V sử dụng tại phòng vệ sinh trong nhà của S, cụ thể:

- Lần 1, khoảng 07 giờ ngày 26/12/2022, S cung cấp cho Đinh Văn K 01 gói ma túy Heroin, sau đó K mang ma túy vào phòng vệ sinh sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể, xilanh và nước cất do K tự mang theo.

- Lần 2 vào khoảng 10 giờ ngày 26/12/2022 và lần 3 vào khoảng 14 giờ ngày 27/12/2022, mỗi lần S cung cấp cho Đinh Văn V 01 gói ma túy Heroin, sau đó V mang ma túy vào phòng vệ sinh sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể, bật lửa và giấy bạc do V tự chuẩn bị.

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 28/12/2022, S tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS 12T1–156.46 đến gặp người đàn ông lạ mặt nói trên mua 01 gói ma túy Heroin giá 500.000 đồng rồi quay về nhà. Số ma túy này S đã sẻ ra, cung cấp cho V và K sử dụng 02 lần tại phòng vệ sinh trong nhà của S, cụ thể:

- Lần 1, khoảng 17 giờ cùng ngày, S sẻ một ít ma túy Heroin cho Đinh Văn V, sau đó V đem vào phòng vệ sinh sử dụng bằng hình thức hít vào cơ thể, giấy bạc và bật lửa do V tự chuẩn bị.

- Lần 2, khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, S sẻ một ít ma túy Heroin cho Đinh Văn K, sau đó K đem vào phòng vệ sinh sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể, xilanh, nước cất do K mang theo trước đó.

Số ma túy còn lại S tự sử dụng một ít bằng hình thức hít, phần còn lại S chia thành 02 gói, một gói giấu tại đầu giường ngủ, gói còn lại chia ra thành 03 gói nhỏ nữa rồi cất 01 gói vào ví cá nhân đựng tại túi quần và bán 02 gói cho Bế Thành G giá 400.000 đồng vào khoảng 19 giờ cùng ngày tại nhà S thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSTĐ ngày 28/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Văn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ quá trình, mục đích đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán lại để kiếm lời. Đồng thời bị cáo S cũng thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nêu trên và thừa nhận được cho Đinh Văn V, Đinh Văn K sử dụng ma túy trái phép tại phòng vệ sinh trong nhà của S nhiều lần.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét tuyên bố bị cáo Đinh Văn S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn S từ 07 (bẩy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo từ 07 (bẩy) năm đến 08 (tám) tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo phải chấp hành từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) năm tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 Phong bì niêm phong đựng tang vật của bị cáo Đinh Văn S. Bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng đựng 0,011 gam chất ma túy Heroin và 0,072 gam chất ma túy Heroin; tịch thu tiêu hủy 18 mảnh giấy trắng có dòng kẻ diện 02 x 02 cm; 02 xilanh đã qua sử dụng; 01 mảnh dao lam đã qua sử dụng.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng – đen, BKS: 12T1 – 156.46, số khung: 3653GY116164, số máy: JA36E0599150; 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Văn S.

Tịch thu số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy có được 800.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Trả cho bị cáo: 01 Căn cước công dân số 020093010242 mang tên Đinh Văn S; số tiền 900.000 đồng đựng trong phong bì được niêm phong. Số tiền trên tạm giữ để thi hành án.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt những người làm chứng các anh Nông Ngọc L, Hoàng Văn Q, Đinh Văn V, Bế Thành G, Đinh Văn K Hội đồng xét xử nhận thấy người làm chứng trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra và được lưu trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi cấu thành tội phạm đối với bị cáo Đinh Văn S: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, đồng thời hoàn toàn phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Cụ thể từ ngày 25/12/2022 đến ngày 28/12/2022, tại nhà của bị cáo Đinh Văn S, bị cáo S đã có hành vi bán trái phép chất ma túy Heroin 03 lần cho các đối tượng nghiện để kiếm lời, cụ thể: Bán cho Nông Ngọc L, Hoàng Văn Q và Bế Thành G mỗi người 01 lần. Xác định được bị cáo Đinh Văn S ngoài bán trái phép chất ma túy còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 05 lần bằng việc cung cấp chất ma túy Heroin và địa điểm là nhà vệ sinh trong nhà mình cho Đinh Văn V và Đinh Văn K đưa trái phép chất ma túy Heroin vào cơ thể bằng hình thức chích và hít để thỏa mãn cơn nghiện. Đến 19 giờ ngày 28/12/2022 thì hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn S bị Công an huyện Tràng Định phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của S tổng cộng 0,114 gam chất ma túy Heroin, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng S truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn S là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, am hiểu về pháp luật, biết được việc Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện vì mục đích vụ lợi nên bị cáo bất chấp pháp luật, biết được việc mua bán trái phép chất ma túy là trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến trật tự, an ninh xã hội, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo bị xã hội lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo gây ra cần phải bị xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: Bị cáo Đinh Văn S đã có 01 tiền án tại Bản án số 25/2015/HSST ngày 15/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo S 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo đã chấp xong hình phạt tù vào ngày 21/12/2020, chấp hành xong án phí và các quyết định khác của Bản án nhưng chưa hết thời hạn đương nhiên được xóa án tích theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự. Do đó căn cứ điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự, lần phạm tội này thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội; tiền sự: Không có; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định khung hình phạt bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác; về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua biên bản xác minh ngày 20/3/2023, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, nên được chấp nhận.

Đối với người đàn ông bán chất ma túy Heroin cho bị cáo Đinh Văn S tại khu vực cây xăng thuộc thị trấn N, huyện V1, tỉnh Lạng Sơn. Xét thấy đây là lời khai một phía của bị cáo S, mặt khác không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

đối với Nông Ngọc L, Hoàng Văn Q được mua chất ma túy Heroin với Đinh Văn S về sử dụng; Đinh Văn V, Đinh Văn K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy hành vi này chưa cấu thành tội phạm nên Công an huyện Tràng Định đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng này bằng hình thức Cảnh cáo. Đối với Bế Thành G vứt 01 gói ma túy tại hiện trường nhưng khối lượng chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy với số tiền 3.500.000 đồng. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 1.700.000 đồng thu của bị cáo, bị cáo chứng minh được trong đó có 900.000 đồng là do bị cáo đi làm thuê có được, được Hội đồng xét xử chấp nhận trả cho bị cáo, số tiền này được tạm giữ để thi hành án. Còn 800.000 đồng tiền bán ma túy tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy số toàn bộ số ma túy Heroin đựng trong 02 phong bì được niêm phong và 18 mảnh giấy trắng có dòng kẻ diện 02 x 02 cm; 02 xilanh đã qua sử dụng; 01 mảnh dao lam đã qua sử dụng.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO; 01 xe mô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng – đen, BKS: 12T1 – 156.46, số khung: 3653GY116164, số máy:JA36E0599150; 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Văn S.

Trả cho bị cáo: 01 Căn cước công dân số 020093010242 mang tên Đinh Văn S.

Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 55 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt chính:

2.1 Xử phạt bị cáo Đinh Văn S 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy;

2.2. Xử phạt bị cáo Đinh Văn S 07 (bẩy) năm tù, về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

2.3. Tổng hợp cả hai tội bị cáo phải chấp hành hình phạt tù 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 Phong bì niêm phong tang vật ma túy. Mặt trước ghi “02 (hai) gói chứa chất bột màu trắng nghi ma túy Heroin thu giữ khi bắt quả tang Đinh Văn S ngày 28/12/2022’’ có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, Hoàng Mạnh H cùng 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn. Mặt sau được niêm phong dán kín và có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong gồm Đinh Văn S, Nguyễn Ngọc S1, Dương Văn N1, Đinh Văn Đ và 05 (năm) dấu tròn đỏ của Công an xã Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng cũ đựng 0,011 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 01 (một) vỏ gói giấy màu trắng (cũ), (chất ma túy đựng trong gói giấy màu trắng kẻ ô ly đã dùng làm mẫu giám định hết); 01 phong bì niêm phong tang vật ma túy. Mặt trước ghi “tang vật nghi ma túy thu giữ khi khám xét ngày 28/12/2022’’ có chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Đình C, Hoàng Mạnh H cùng 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn. Mặt sau được niêm phong dán kín và có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong gồm Đinh Văn S, Nguyễn Ngọc S1, La Văn H1, Nông Quang H2, Đinh Văn Đ, Dương Thị P và 05 (năm) dấu tròn đỏ của Công an xã Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Bên trong có 01 (một) gói giấy cũ đựng 0,072 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 18 mảnh giấy trắng có dòng kẻ diện 02 x 02 cm; 02 xilanh đã qua sử dụng; 01 mảnh dao lam đã qua sử dụng.

4.2 Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu trắng xanh, số IMEI: 860163043440576, đã qua sử dụng; 01 xe mô nhãn hiệu Honda Blade màu trắng – đen, BKS: 12T1 – 156.46, số khung: 3653GY116164, số máy: JA36E0599150; 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Đinh Văn S.

4.3 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 (tám trăm nghìn) đồng (số tiền này nằm trong tổng số tiền 1.700.000) đồng đựng trong 01 (một) phong bì được niêm phong dán kín, mặt trước ghi “1.700.000 (một triệu bẩy trăm nghìn) đồng thu giữ khi bắt quả tang Đinh Văn S ngày 28/12/2022’’ có chữ ký cùng tên của giám định viên Nông Quang P, Lê Thị D cùng 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn. Mặt sau được niêm phong dán kín và có chữ ký cùng tên của những người tham gia niêm phong gồm Đinh Văn S, Nguyễn Ngọc S1, Dương Văn N1, Đinh Văn Đ và 05 (năm) dấu tròn đỏ của Công an xã Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Bên trong có số tiền 1.700.000 (một triệu bẩy trăm nghìn) đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm các tờ mệnh giá khác nhau.

4.4. Trả cho bị cáo: 01 Căn cước công dân số 020093010242 mang tên Đinh Văn S và 900.000 (chín trăm nghìn) đồng (số tiền này nằm trong tổng số tiền 1.700.000) đồng đựng trong 01 (một) phong bì được niêm phong dán kín, mặt trước ghi “1.700.000 (một triệu bẩy trăm nghìn) đồng thu giữ khi bắt quả tang Đinh Văn S ngày 28/12/2022’’ Số tiền trên tạm giữ để thi hành án.

(Chi tiết toàn bộ số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ngày 21/4/2023).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Văn S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đinh Văn S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ