- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng S Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HSST Ngày: 31/3/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế;
Ông Trần Giai Thưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 14/2032/HSST ngày 20/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST- HS ngày 20/3/2023 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Đăng S, sinh năm 1987.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Dương H, xã Đại Đ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ h c vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng Q và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Lê Thị H, sinh năm 1985 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 18/9/2020, bị Chủ tịch UBND xã Đại Đồng ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 46/QĐ-UBND về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 18/12/2020, chấp hành xong quyết định.
Nhân thân:
+ Tại Quyết định bắt buộc chữa bệnh số 422 ngày 11/6/2010, S bị chủ tịch UBND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ra quyết định bắt buộc chữa bệnh, thời hạn 12 tháng. Ngày 29/6/2011, chấp hành xong quyết định.
+ Tại Bản án số 10/2013/HSST ngày 23/01/2013, S bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. (Ngày 25/10/2014 chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án).
+ Tại Bản án số 04/2015/HSST ngày 16/11/2015, S bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. ( Ngày 25/10/2018 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Văn N, sinh năm 1993, trú tại: Thôn Ng c N, xã Trạm L, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
+ Nguyễn Văn T, sinh năm 1997, trú tại: Thôn Quảng T, xã Thạch Q, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG CỦA V ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 35 phút ngày 05/12/2022, tại đoạn đường QL17 thuộc địa phận thôn Ng c Trì, xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Công an huyện Thuận Thành phối hợp với Công an xã Trạm Lộ bắt quả tang đối tượng Nguyễn Đăng S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán kiếm lời. Tại thời điểm bắt quả tang còn có Nguyễn Văn N, sinh năm 1993, trú tại: Thôn Ng c N, xã Trạm L, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ; Nguyễn Văn T, sinh năm 1997, trú tại: Thôn Quảng T, xã Thạch Q, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; Trương Văn T1, sinh năm 1982, trú tại: Thôn Đông T, xã Đông T, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn Tr ng A, sinh năm 1991, trú tại: Thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Vật chứng thu giữ gồm:
+ Tại lòng bàn tay phải của Nguyễn Đăng S 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu đỏ bên trong chứa các cục chất bột màu trắng và 02 nửa viên nén màu hồng (S khai nhận là ma túy heroine và ma túy ngựa S mua về mục đích để bán kiếm lời); 01 điện thoại Samsung màu đen, lắp sim số 0333.102.414 và 0398.735.176 tại túi quần phía trước bên phải S đang.
+ 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki màu cam, BKS: 98B2-017.18 tại móc treo đồ bên phải của xe có treo 01 ví da màu đen, bên trong ví có 01 CCCD mang tên Nguyễn Đăng S và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 114700 mang tên Hoàng Hữu Bình; 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng, lắp sim số 0975.566.326 của Nguyễn Văn T
+ 01điện thoại Nokia 1280 màu đen, lắp sim số 0966.352.098 của Nguyễn Văn N.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 1962/KL-KTHSngày 07/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Các cục chất bột màu trắng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng 3,2094 gam, là ma tuý, loại ma tuý: Heroine.
- 02 (hai) nửa viên nén màu hồng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng 0,0904 gam, là ma tuý, loại ma tuý: Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận như sau:
Bản thân S sử dụng ma tuý từ khoảng năm 2012 đến nay. Do không có tiền tiêu xài nên S nảy sinh ý định đi mua ma tuý về bán kiếm lời. S nghe nói ở khu vực cột đồng hồ thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh có người bán ma túy nên buổi tối ngày 04/12/2022, S một mình đi bộ đến khu vực cột đồng hồ ở thành phố Từ Sơn để tìm mua ma tuý. Tại cột đồng hồ, S gặp và mua 01 túi nilon màu trắng có viền kẻ màu đỏ bên trong chứa các cục chất bột màu trắng và 02 nửa viên nén màu hồngcủa một người đàn ông tên Hà khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, trông giống người nghiện ma tuý (S không biết h tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này) với giá 4.000.000 đồng. Sau đó, S cất số ma tuý trên vào túi áo khoác đang mặc rồi đi bộ một mình vào một nhà nghỉ gần đó nghỉ ngơi (S không nhớ tên của nhà nghỉ này).
Khoảng 13 giờ ngày 05/12/2022, trong lúc S đang ở nhà nghỉ thì có Nguyễn Văn N (là bạn bè quen biết ngoài xã hội với S) g i từ số điện thoại 0966.352.098 đến số điện thoại 0398.735.176 của S và hỏi S “Có hàng trắng không, để cho một ít”, S hiểu N hỏi mua ma túy loại Heroine nên đã trả lời là “Có”. Sau đó, N hẹn S đến khu vực ngã tư Đông Côi, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để giao dịch mua bán ma tuý. S đồng ý. Trước khi đi, S cất gói ma tuý nêu trên vào trong quần lót S đang mặc trên người rồi một mình đi bộ đến bến xe thành phố Từ S để bắt xe bus về ngã tư Đông Côi, thị trấn Hồ. Tại bến xe bus, S gặp Nguyễn Văn T đang điều khiển xe môtô nhãn hiệu SUZUKI, màu cam BKS 98B2- 017.18 (chiếc xe này là xe của S cho T mượn khoảng 10 ngày trước). S rủ T đi chơi. T đồng ý. Sau đó, S điều khiển xe môtô chở T đến ngã tư Đông Côi, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi S và T đi đến đường QL17 đoạn thuộc địa phận thôn Ng c Nội, xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thì gặp Nguyễn Văn N đang đứng cùng Nguyễn Tr ng A và Trương Văn T1 đang đứng ở lề đường. Thấy vậy, S dừng xe lại và lấy gói ma tuý giấu trong quần lót S đang mặc ra cầm trên tay phải rồi xuống xe cùng T đi bộ đến chỗ N để bán ma túy cho N. Khi S đang đi đến cách vị trí của N khoảng 2m, chuẩn bị đưa ma túy cho N thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Ngoài ra, S khai nhận nếu N không mua hết số ma túy trên thì S sẽ tiếp tục bán số ma túy còn lại cho người khác để kiếm lời.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS, ngày 20/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố Nguyễn Đăng S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành duy trì công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định và 03 chiếc sim điện thoại có các số 0966.352.098; 0398.735.176; 0333.102.41.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại Samsung màu đen; 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki màu cam, BKS: 98B2-017.18 ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 114700 mang tên Hoàng Hữu Bình; 01điện thoại Nokia 1280 màu đen
Trả lại: Nguyễn Đăng S 01 ví da màu đen, bên trong ví có 01 CCCD mang tên Nguyễn Đăng S; Nguyễn Văn T 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng, lắp sim số 0975.566.326.
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sng do bị cáo không có công việc ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
NHẬN Đ NH CỦA T A ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định:
Hồi 14 giờ 35 phút ngày 05/12/2022, tại đường QL17 đoạn thuộc địa phận thôn Ng c Trì, xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an huyện Thuận Thành bắt quả tangNguyễn Đăng S đang có hành vi tàng trữ trái phép tổng cộng 3,2998 gam ma túy (gồm 3,2094 gam ma túy, loại ma túy Heroine và 0,0904 gam ma túy, loại ma túy Methamphetamine) nhằm mục đích để bán kiếm lời. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Chính vì vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 18/9/2020, bị Chủ tịch UBND xã Đại Đồng ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 18/12/2020, chấp hành xong quyết định.
Ngoài ra ngày 23/1/2010, bị cáo bị Chủ tịch UBND huyện Tiên Du ra quyết định bắt buộc chữa bệnh; Ngày 23/01/2013, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngày 16/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đến nay bị cáo đã được xóa án tích nên được coi là không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu. Bị cáo không lấy đó làm bài h c để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian phục vụ trong Quân Đội, có mẹ đẻ là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ. Vì vậy việc bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là không có sơ sở chấp nhận.
[3] Liên quan trong vụ án này còn có Nguyễn Văn N, người hẹn S ra ngã tư Đông Côi để mua ma túy của S. Quá trình điều tra N khai dự tính mua 200.000 đồng ma túy của S nhưng chưa kịp thỏa thuận giá mua bán thì bị bắt quả tang. Số tiền định mua ma túy, N đã đánh rơi trên đường đi gặp S. N chưa kịp thỏa thuận giá mua bán ma túy với S nên không xác định được khối lượng ma túy N mua của S để sử dụng. Ngày 05/12/2022, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra nước tiểu của N, kết quả N âm tính với ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với N là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn T là người đi cùng S, Nguyễn Tr ng A và Trương Văn T1 là người đi cùng N và có mặt tại thời điểm Công an huyện Thuận Thành bắt quả tang S. Quá trình điều tra xác định T, Tr ng A và T1 không sử dụng ma túy và không biết việc S và N hẹn nhau để giao dịch mua bán ma túy. Vì vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với T, Tr ng A và T1 là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên Hà đã bán ma túy cho S tối ngày 04/12/2022 tại cột đồng hồ tại thành phố Từ S, tỉnh Bắc Ninh, do S không biết h tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[4] Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý số vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ. Cụ thể:
Đối với số lượng ma túy còn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 02 chiếc sim điện thoại số 0333.102.414; 0398.735.176 lắp trong điện thoại Samsung của S; 01 chiếc sim điện thoại số 0966.352.098 lắp trong điện thoại Nokia của N không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại Samsung màu đen; 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki màu cam, BKS: 98B2-017.18; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 114700 mang tên Hoàng Hữu Bình thu giữ của S; 01điện thoại Nokia 1280 màu đen thu giữ của N. Xét thấy liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước:
Đối với 01 ví da màu đen, bên trong ví có 01 CCCD mang tên Nguyễn Đăng S. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6S màu hồng, gắn sim số 0975.566.326 thu giữ của anh Nguyễn Văn T. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh T.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đăng S phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Đăng S 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư có niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Bên ngoài phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Đăng S, sinh năm 1987 ở thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh có hành vi mua bán trái phép chất ma túy”; 03 sim điện thoại gồm có các số 0333.102.414; 0398.735.176; 0966.352.098.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki màu cam, BKS: 98B2-017.18, số khung RLSBG41J0E0101284, số máy G427101300; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 114700 mang tên Hoàng Hữu Bình; 01 điện thoại Samsung màu đen; 01điện thoại Nokia 1280 màu đen.
Trả lại Nguyễn Đăng S 01 ví da màu đen, bên trong ví có 01 CCCD mang tên Nguyễn Đăng S.
Trả lại anh Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động Iphone 6S màu hồng, gắn sim số 0975.566.326.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 22/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Thành với Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Thành)
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Thuận Thành; - Công an huyện Thuận Thành; - Những người tham gia tố tụng; - THADS huyện Thuận Thành; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI Đ NG X T X S TH M TH M PHÁN – CHỦ T A PHI N T A (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Thu |