- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Quách Văn L1 - phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS - phạm tội vi phạm quy địn…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn L1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC TỈNH HÒA BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HSST Ngày 25/7/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC – TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Yến Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Giang - Phó Bí thư huyện Đoàn Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
Ông Bùi Văn Luận - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Phong Phú, huyện
Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Mạnh Cơ – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2023/TLST - HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST – HS ngày 11 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo: QUÁCH VĂN L1 – sinh ngày 26/7/2001; nơi sinh: Tân Lạc, Hòa Bình; Nơi cư trú: Khu M, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn P, sinh năm 1968 và bà Đinh Thị Q, sinh năm 1972; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu M, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình - có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Bùi Đoàn D, sinh năm 1957 (đã chết)
Hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Bùi Thị Tú D1, sinh năm 1986 (có mặt tại phiên tòa), theo văn bản ủy quyền ngày 21/02/2023 do UBND xã N, huyện T cấp.
Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình.
- Người chứng kiến: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình - vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 29/01/2023 Quách Văn Lâm sinh năm 2001, trú tại khu M, thị trấn M, huyện T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28E1 - 244.34 từ trường Cao đẳng N, thành phố H vào huyện T xem Lễ hội Khai Hạ năm 2023. 19 giờ 40 phút L1 đi đến đoạn Km105 + 870m, quốc lộ F thuộc xóm T, xã N, huyện T với tốc độ khoảng 50Km/giờ ở phần đường bên phải hướng Hà Nội - Sơn La. L1 không chú ý quan sát nên không phát hiện phía trước có ông Bùi Đoàn D, sinh năm 1957 ở xóm T, xã N đang đi bộ từ nhà (bên trái đường) sang bên phải đường và đã sang đến phần đường bên phải hướng Hà Nội - Sơn La. Khi khoảng cách gần còn khoảng 02 đến 03 mét thì L1 mới phát hiện ra ông D, L1 đánh tay lái sang bên phải hướng đi của mình để tránh va chạm nhưng đã xảy ra va chạm ở đầu xe phía trước bên trái đâm va vào ông D làm ông D ngã văng trên mặt đường và bất tỉnh tại chỗ. Hậu quả sau tai nạn ông D và L1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện, xe mô tô bị hư hỏng. Ngày 30/01/2023 ông D tử vong, L1 điều trị tại bệnh viện đến ngày 04/02/2023 thì ra viện.
Quá trình điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
+ 01 (một) xe mô tô, biển số 28E1-244.34, nhãn hiệu HONDA, số máy JA39E2751998, số khung RLHJA3923NY255239 đã qua sử dụng;
+ 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 170221015887, cấp ngày 28/10/2022 mang tên Quách Văn L;
+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Quách Văn L1 số 28005011, cấp ngày 05/10/2022.
Khám nghiệm hiện trƣờng xác định:
Vị trí xảy ra tai nạn Km 105+871m, Quốc lộ F thuộc xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Khám nghiệm hiện trường theo hướng Hà Nội - Sơn La, lấy mép đường bên trái hướng Hà Nội - Sơn La làm chuẩn đây là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa, rộng 6,1 m t, giữa đường có vạch sơn đứt chia thành 2 phần đường xe chạy, lề đường bên phải rộng 1,1 m t, lề đường bên trái rộng 01 mét, hai bên đường là nhà dân sinh sống, điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô với người đi bộ tương ứng xuống mặt đường (ký hiệu điểm A): Đo từ A vào m p đường bên trái được 5,60 mét (Do đó, điểm A cách mép đường bên phải là 0,5 mét); A vào cột mốc H9/105 được 33,50 m t; A đến trục sau xe mô tô biển số 28E1- 244.34 được 10,70 m t. Sau va chạm, ông D bị ngã văng đi 4,5 m t theo hướng di chuyển của xe mô tô, bị thương nặng và n m bất tỉnh ở phần đường bên phải để lại vết máu chảy loang có diện 2,6 m t x 0,4 m t, đầu vết máu cách m p đường phải 1,6 m t ( hi u 4), còn Quách Văn L1 và xe mô tô biển số 28E1- 244.34 đổ ngã về bên trái trượt đi theo chiều di chuyển văng ra lề đường 8,5 m t (tr c trư c ánh e m t Biển kiểm soát 28E1- 244.34 cách mép đường trái ,6 mét, tr c sau ánh e cách mép đường trái 6, mét , tạo thành vết cày trên mặt đường kết thúc tại để chân trước bên trái xe mô tô biển số 28E1- 244.34 ( hi u
Khám nghiệm phƣơng tiện xe mô tô xác định:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 28E1 - 244.34:
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô sau tai nạn xác định:
Gương chiếu hậu bên trái vỡ rời ra ngoài, cọc gương xô lệch cong, mài mòn trượt xước kim loại hướng từ trước về sau, diện 2 x 1cm. Đầu ngoài tay nắm bên trái bong tróc sơn, mài mòn trượt xước kim loại diện 0,5 x 1,5cm; Đầu trên cánh yếm bên trái nứt vỡ diện 24 x 17cm, điểm cao nhất và thấp nhất của vết nứt vỡ so với mặt đất lần lượt là 79cm và 55cm; Đầu trước bên trái của chắn bùn trước mài mòn trượt xước sơn hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải; Nhựa ốp sườn xe bên trái mài mòn trượt xước sơn từ trước ra sau diện 9 x 6,5cm. Mặt ngoài bên trái cần nâng đẩy bị mài mòn trượt xước cao su bám dính bụi đất từ trước ra sau diện 18 x 3cm; Đầu trước cần số cong vênh từ trước ra sau, từ phải qua trái; Đầu ngoài để chân trước bên trái mài mòn, rách cao su chiều hướng từ dưới lên trên, từ trước ra sau diện 4 x 4cm. Kỹ thuật an toàn phương tiện xe khởi động bình thường, hệ thống phanh, đèn, còi, lốp, gương hoạt động bình thường.
Tại bản Kết luận Giám định pháp y về tử thi số 33/CAT - PC09 ngày 06/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Nạn nhân Bùi Đoàn D chết do chấn thương sọ não.
Tại bản kết luận giám định số 616/KL-KLHS ngày 06/02/2023 của V - Bộ C kết luận mẫu máu của Bùi Đoàn D: Không tìm thấy ethanol (cồn).
Tại bản kết luận giám định số 618/KL-KLHS ngày 07/02/2023 của V - Bộ C kết luận mẫu máu của Quách Văn L1: Không tìm thấy ethanol (cồn).
Tại bản kết luận giám định số 619/KL-KLHS ngày 09/02/2023 của V - Bộ C kết luận mẫu máu của Bùi Đoàn D: Không tìm thấy chất ma túy và các chất chuyển hóa của chúng trong mẫu máu gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 620/KL-KLHS ngày 09/02/2023 của V - Bộ C kết luận mẫu máu của Quách Văn L1: Không tìm thấy chất ma túy và các chất chuyển hóa của chúng trong mẫu máu gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 185/KL-KLHS ngày 12/5/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận 01 USB, nhãn hiệu Kingston, dung lượng 32GB lưu trữ 02 tệp video: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT- VKS ngày 27/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc truy tố Quách Văn L1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với Biên bản tài liệu đồ vật thu giữ; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Biên bản khám nghiệm tử thi; các Kết luận giám định cùng các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đúng với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc đã truy tố bị cáo, bị cáo không kêu oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án treo để bị cáo cơ cơ hội ở ngoài cải tạo, lao động có thu nhập để trả các khoản vay nợ.
Ngày 01/6/2023 đại diện hợp pháp cho bị hại Bùi Đoàn D là chị Bùi Thị Tú D1 cùng bị cáo L1 đã thỏa thuận về trách nhiệm dân sự, bị cáo Quách Văn L1 đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của ông D số tiền mai táng phí, tổn thất tinh thần, chi phí cứu chữa nạn nhân là 150.000.000đồng; Gia đình ông D đã kê khai chi phí cấp cứu và mai táng phí tổng cộng là 89.000.000đồng. Chị Bùi Thị Tú D1 là đại diện theo ủy quyền của bà L2, chị Hoài A và anh T1 đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Quách Văn L1.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Quách Văn L1 từ chối và không đề nghị thuê người bào chữa và tự bào chữa cho bản thân; người đại diện hợp pháp của bị hại là đối tượng được trợ giúp pháp lý, tuy nhiên trong quá trình điều tra chị D1 từ chối và không yêu cầu đề nghị người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc phân tích lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai phù hợp với các tài liệu đồ vật thu giữ; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Biên bản khám nghiệm tử thi; các kết luận giám định cùng các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ có sở xác định bị cáo Quách Văn L1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Quách Văn L1 từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng trả lại bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 28E1 - 244.34; 01 giấy phép lái xe và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Quách Văn L1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đã tự thỏa thuận xong nên không đặt ra để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét bị cáo Quách Văn L1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hạng A1 hợp lệ. Ngày 29/01/2023 khi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28E1 - 244.34 đi từ thành phố H đến khu vực Km 105 + 870m, Quốc lộ F thuộc xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình theo hướng Hà Nội - Sơn La để đi xem lễ hội Khai Hạ, do thiếu quan sát đường đi và không làm chủ tốc độ nên đâm va vào ông Bùi Đoàn D đang đi bộ qua đường trong điều kiện đường thoáng rộng, có đèn đường chiếu sáng, mật độ tham gia giao thông ít người. Bị cáo L1 đã vi phạm quy định về giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có người đi bộ qua đường, tại đoạn đường xảy ra tai nạn không có vạch kẻ đường cho người đi bộ thì người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ qua đường đảm bảo an toàn, tuy nhiên bị cáo L1 đã cẩu thả, không quan sát kỹ khi ở khoảng cách gần cách ông D 2 đến 3 mét mới phát hiện và tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên xe do bị cáo điều khiển đã đâm vào bị hại làm ông D ngã văng ra đường và hậu quả đã tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 6 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo L1 điều khiển xe mô tô không tuân thủ đúng quy tắc tham gia giao thông, không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ dẫn tới hậu quả làm 1 người chết.
Hiện trường xảy ra tai nạn vào trời tối tại Km 105+ 870m, Quốc lộ F thuộc xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình, đây là đoạn đường thẳng nhẵn, mặt đường nhựa phẳng bề mặt đường rộng 6,10m t, tim đường có vạch đơn đứt nét phân hai chiều xe chạy. Điểm va xác định được cách m p đường bên phải là 0,5m t hướng Hà Nội - Sơn La. Bị cáo L1 hoàn toàn nhận thức được việc giữ khoảng cách an toàn và giảm tốc độ nhường đường cho người đi bộ qua đường an toàn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, bị cáo điều khiển xe không làm chủ tốc độ cao, không quan sát kỹ, cẩu thả khi tham gia giao thông nên đã va chạm vào bị hại đang đi bộ qua đường cách m p đường bên phải cùng chiều với xe bị cáo là vi phạm pháp luật song do chủ quan, cẩu thả không tuân thủ nghiêm quy tắc tham gia giao thông nên đã vô ý phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của ông Bùi Đoàn D đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy phải có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nh m răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
.Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quách Văn L1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn đã bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại Bùi Đoàn D, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L1. Đại diện cho Chi ủy, ban quản lý khu, ban công tác mặt trận khu, đoàn thanh niên, hội phụ nữ các đoàn thể tại nơi cư trú của bị cáo có đơn đề nghị cho bị cáo L1 được hưởng sự khoan hồng, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Khi lượng hình Tòa xét: Bị cáo L1 chưa có tiền án, tiền sự, thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Sau tai nạn đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại về tổn thất tinh thần và mai táng phí cho gia đình bị hại. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cần có hình phạt xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nh m răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên với đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên cần cho bị cáo hưởng hình phạt tù có điều kiện. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo L1 thực hiện là lỗi vô ý, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, đã từng đi nghĩa vụ quân sự hoàn thành trở về địa phương và đang đi học nghề tại trường Cao đẳng N, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và ấn định thời gian thử thách nhất định dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Đây cũng là bài học cho bị cáo nhận thức được trách nhiệm của bản thân khi tham gia giao thông cần tuân thủ đúng Luật giao thông đường bộ và các hành vi bị cấm khi tham gia giao thông.
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại xong, tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại không đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập.
.Về vật chứng vụ án:
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 28E1 - 244.34 và các giấy tờ xe mang tên bị cáo Quách Văn L1, đây là xe thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, xét cần trả lại cho bị cáo cùng các giấy tờ đăng ký xe mô tô, giấy phép lái xe mô tô cho bị cáo.
. Xét về Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã áp dụng các quy định của pháp luật hình sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định này. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc đã truy tố Quách Văn L1 theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 25/CT- VKS ngày 27/6/2023 là có căn cứ đúng pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo Quách Văn L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn L1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao th ng đường bộ”
Xử phạt Quách Văn L1 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/7/2023.
Giao bị cáo Quách Văn L1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong trường hợp Quách Văn L1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Quách Văn L1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc Quách Văn L1 phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Quách Văn L1 và gia đình bị hại Bùi Đoàn D mà đại diện hợp pháp của bị hại D đã nhận đủ bồi thường cho nhau số tiền 150.000.000đ (Một trăm năm mươi tri u) đồng. Hai bên đã giao nhận đủ số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Quách Văn L1: 01 (một) xe mô tô, biển số 28E1-244.34, nhãn hiệu HONDA, số máy JA39E2751998, số khung RLHJA3923NY255239 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 170221015887, cấp ngày 28/10/2022 mang tên Quách Văn L1 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Quách Văn L1 số 28005011, cấp ngày 05/10/2022.
Hiện vật chứng này đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc, theo Biên bản giao nhận vật chứng số 32 ngày 20/7/2023 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc.
4. Án phí: Bị cáo Quách Văn L1 phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huy n Tân Lạc; - Công an huy n Tân Lạc; - Chi c c THA dân sự huy n Tân Lạc; - Bị cáo; Đại di n hợp pháp của Bị hại; - Lưu hồ sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã tên, đóng dấu) Hà Thị Yến |