- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo DHDT phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo DHDT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HT TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 24/2023/HSST Ngày: 05/05/2023 |
THỊ XÃ HOÀ THÀNH Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HT TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Huỳnh Hải Đăng. 2. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu. - Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã HT, tỉnh TN. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, tỉnh TNtham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiến – Kiểm sát viên. Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HT, tỉnh TNxét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2023/HSST ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo: Họ và tên: DHDT, sinh ngày 08/6/1994, tại tỉnh TN; Nơi thường trú: Số 01, tổ 32, ấp LH, xã TrT, thị xã HT, tỉnh TN; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không có; Giới tính: Nam; Con ông DVL, sinh năm 1965 và bà HTT, sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/02/2023, tạm giam ngày 16/02/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo DHDT là đối tượng sử dụng ma túy. Ngày 06/02/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo T. một mình đến khu vực vườn cao su thuộc ấp Trường
Lộc, xã TrT, thị xã HT, tỉnh TNgặp một thanh niên tên Trung (không rõ nhân thân, địa chỉ) để mua của Trung 01 (một) bịch ma túy với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, bị cáo T. đem về cất giấu trên kệ trong phòng ngủ của mình (phòng số 2) để dành sử dụng rồi đi đến khu vực Nhà văn hóa xã TrT, thị xã HT, tỉnh TNchơi thì bị Công an xã TrT mời về trụ sở test nhanh phát hiện có dương tính với chất ma túy. Qua làm việc, bị cáo T. khai nhận có cất giấu ma túy trong phòng ngủ tại nhà mình. Trên cơ sở lời khai của bị cáo T., lúc 19 giờ 30 phút cùng ngày 06/02/2023, Công an tiến hành khám xét khẩn cấp phòng ngủ của bị cáo T. (phòng số 2) tại nhà số 01, tổ 32, ấp Long Hải, xã TrT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh, thu giữ 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 06 (sáu) bịch nylon, có chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong, ký hiệu M. Tại Kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 08/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong 06 (sáu) bịch nylon (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,0464 gam. Qua xác minh, bị cáo T. không có tài sản nên không kê biên. Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKSHT ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, tỉnh TNđã truy tố bị cáo DHDT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh TNgiữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T. về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: - Tuyên bố bị cáo DHDT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo DHDT từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có tài sản. - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Đối với người tên Trung không rõ nhân thân, địa chỉ, khi nào làm rõ, xử lý sau. Bị cáo T. nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo nhận thức việc làm
của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ để sớm đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã HT, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo T. khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 19 giờ 30 phút, ngày 06/02/2023, lực lượng Công an xã TrT, thị xã HT, tỉnh TNtiến hành thử nhanh ma túy phát hiện bị cáo T. dương tính với ma túy. Qua làm việc, bị cáo T. khai nhận có mua ma túy về nhà sử dụng và hiện tại còn đang cất giấu ma túy ở nhà. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã HT, tỉnh TNra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo T. tại nhà số 01, tổ 32, ấp Long Hải, xã TrT, thị xã HT, tỉnh TNphát hiện thu giữ trong phòng ngủ số 2 của bị cáo T. có 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 06 (sáu) bịch nylon chứa chất tinh thể màu trắng, là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,0464 gam. Bị cáo T. có hành vi tàng trữ 1,0464 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt. Bị cáo T. là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng mối quan hệ xã hội, tìm cách liên lạc mua ma túy của người khác, cất giấu ma túy tại phòng ngủ số 2 để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo dù không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện ma túy, hành vi của bị cáo T. đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, tỉnh TNgiữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và lời luận tội là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà
nước. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, việc sử dụng ma túy sẽ làm lây truyền các căn bệnh thế kỷ như HIV và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nhưng bất chấp hậu quả, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T. thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản. [4] Về thu giữ vật chứng: - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 185/M, có chữ ký của Giám định viên VQT, trợ lý Giám định NCL và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN. Khối lượng sau giám định: M: 0,9212 gam; - 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng. - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh đen, số Imei1: 861325043619674, số Imei2: 861325043619666, đã qua sử dụng; - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đen, số Imei1: 355849093732171, số Imei2: 355849098732176, đã qua sử dụng. Đối với người tên Trung không rõ nhân thân, địa chỉ, khi nào làm rõ, xử lý sau. [5] Bị cáo phải chịu án phí theo luật định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo DHDT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo DHDT 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/02/2023. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 185/M, có chữ ký của Giám định viên VQT, trợ lý Giám định NCL và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh. Khối lượng sau giám định: M: 0,9212 gam; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu
Nokia, màu xanh đen, số Imei1: 355849093732171, số Imei2: 355849098732176, đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo T.: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, màu xanh đen, số Imei1: 861325043619674, số Imei2: 861325043619666, đã qua sử dụng 3. Về án phí: Bị cáo DHDT phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TNtrong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nôi nhaän: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa - TAND tối cao; - TAND cấp cao; - VKSND cấp cao; - Vụ Giám đốc kiểm tra 1 - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - TAND tỉnh TN. - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp TN; - VKSND tx. HT. - CCTHADS tx. HT. Nguyễn Thị Bích Vân - THA phạt tù. - Lưu. |