- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Việt A 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10 tháng 11 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HS-ST Ngày 09-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Nguyễn Thị Bích Lý.
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Việt A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 1990 tại H. Nơi cư trú: Số 01 C98 T, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N và bà Vũ Thị H (đều đã chết); có vợ là Chu Minh Ah và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 10/11/2022, tạm giam từ ngày 18/11/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/11/2022, tổ công tác Công an phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phát hiện Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1990, thường trú tại số 2C62 T, quận T, thành phố H đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15C1-20929 chở Đỗ Việt A tại khu vực trước cửa nhà số 222 Vũ Chí Thắng, phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Tổ công tác thuộc Công an phường Nghĩa Xá đã thu giữ trên tay bên phải của Việt A 01 túi nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng, thu giữ của Qúy 01 xe mô tô BKS: 15C1-20929, thu giữ của Việt A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng và đưa Qúy và Anh về trụ sở Công an phường lập biên bản.
Tại Kết luận giám định số 618/KLGĐ-MT ngày 15/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Đỗ Việt A là ma túy, có khối lượng 0,78 gam, là loại: Methamphetamine.
Tai cơ quan điều tra, Đỗ Việt A khai nhận: Đỗ Việt A được một người bạn quen ngoài xã hội (không rõ lai lịch) cho số điện thoại của người phụ nữ tên T (Việt A lưu trong điện thoại tên “T đồ”) để mua ma túy khi cần sử dụng. Khoảng 15 giờ ngày 09/11/2022, Đỗ Việt A gọi điện cho T để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá về để sử dụng. T đồng ý và hẹn giao dịch ở khu vực chắn tàu đường Trần Nguyên Hãn, Lê Chân, Hải Phòng. Khi Việt A chuẩn bị đi đến chỗ T thì tình cờ gặp Nguyễn Xuân Q đang đi xe mô tôt trên đường Bãi Sậy, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng nên đã nhờ Q chở Việt A vào trung tâm thành phố Hải Phòng có việc. Q đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15C1-20929 chở Việt A đi đến ngã ba đường Trần Nguyên Hãn – Hai Bà Trưng thì Việt A bảo Q dừng xe chờ Việt A đi có việc. Q đứng chờ ở ngã ba đường Hai Bà Trưng – Trần Nguyên Hãn, còn Việt A xuống xe đi bộ đến chắn tàu Trần Nguyên Hãn rồi rẽ trái đi vào đường tàu theo hành lang bên phải về phía đường Cầu Đất khoảng 05 mét, gặp một nữ giới đứng ở đó. Việt A hỏi nữ giới có phải tên T không, nữ giới gật đầu thì Việt A đi đến đưa 500.000 đồng cho T. T nhận tiền rồi đưa cho Việt A 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy đá màu trắng. Việt A cầm túi ma túy đá ở lòng bàn tay phải rồi đi ra chỗ Q đứng chờ. Sau đó, Q rủ Việt A đi chơi nên cả hai đi ra đường Trần Nguyên Hãn về hướng đường Vũ Chí Thắng. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 222 Vũ Chí Thắng thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ. Việt A khai nhận số ma túy trên Việt A mua để sử dụng một mình. Q chỉ tình cờ chở Việt A đi, Q không biết, không liên quan đến việc Việt A mua, cất giấu ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân Q khai nhận phù hợp với lời khai của Đỗ Việt A về việc Việt A tình cờ gặp Q trên đường, Q không biết, không liên quan tới việc Việt A mua, cất giấu ma túy.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Đỗ Việt A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Việt A từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định số 618MT/PC09; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng là tài sản của bị cáo dùng vào giao dịch mua ma túy về sử dụng.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với Nguyễn Xuân Qúy là người chở Anh nhưng không biết việc Anh mua và cất giấu ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý nên không xét.
Đối với người bán ma túy cho Việt A, Việt A khai người phụ nữ tên T, sử dụng số điện thoại 0902117776. Kết quả kiểm tra dữ liệu điện thoại và thu giữ thư tín điện tín tại Công ty dịch vụ Mobiphone khu vực 5 đối với số điện thoại trên xác định chủ thuê bao là Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1986; địa chỉ: Số 14 C102 phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. T hiện không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Do đó Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan và ra Quyết định truy tìm người đối với Nguyễn Thị Phương T để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 15C1-20929 do Qúy sử dụng chở Việt A, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tác các tài liệu liên quan đến chiếc xe để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình, Hội đồng xét xử làm rõ: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/11/2022 tại khu vực trước cửa nhà số 222 Vũ Chí Thắng, phường Nghĩa Xá, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Đỗ Việt A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,78 gam chất Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân và bị bắt quả tang nên có đủ căn cứ để xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, xét tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, cần có hình phạt nghiêm, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động Iphone màu vàng là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Việt A 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10 tháng 11 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định số 618MT/PC09; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone màu vàng có số IMEI: 356996067398841 (theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 16/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS quận Lê Chân; - Trại tạm giam CATP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - Phòng PV06, PC10 CATP Hải Phòng; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |