vanban.org

Bản án 24/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T: 02 (Hai) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 24/9/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN B
Bản án số: 24/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 11- 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình H

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc H

2. Bà Lê Thị Thanh Th

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị L - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B.

- Đại diện VKSND huyện Tuần G, tỉnh Điện B tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh H - Kiểm sát viên.

Ngày 27/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T G, tỉnh Điện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 10/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Quàng Văn T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1988 tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B; nơi cư trú: Bản Bó G, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 5/12; con ông: Quàng Văn H (Đã chết); con bà: Quàng Thị Ch, sinh năm 1950; vợ, con: chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị Th – Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện B, có mặt bào chữa cho bị cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 15 phút, ngày 24/9/2023, Quàng Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản Bó G, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B xuống bản Ch, xã Quài N, huyện Tuần G để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đang đi bộ đến khu vực bản Ch, xã Quài N, huyện Tuần G thì T gặp một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 40 tuổi, không quen biết. Qua trao đổi T đã mua được của người phụ nữ đó 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu xanh và 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroine và ma túy tổng hợp T cất số ma túy trên vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà T vào bếp lấy gói Heroine mở ra rồi dùng móng tay bẻ một ít ra dùng giấy bạc có sẵn trong nhà ra đốt và sử dụng bằng hình thức hút, sau khi hút xong T bỏ giấy bạc vào bếp lửa đang cháy và gói lại số Heroine còn lại cho vào túi quần bên phải đang mặc.

Đến khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 24/9/2023 khi T đang đứng trên sàn trong nhà thì có tổ công tác Công an xã Quài N phối hợp với tổ công tác Công an huyện Tuần G đến kiểm tra, tổ công tác yêu cầu T có gì liên quan đến ma túy thì tự giác mang ra giao nộp. Khi nghe tổ công tác yêu cầu, T đã tự giác lấy trong túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 02 gói ma túy gồm: 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine và 01 gói nilon màu hồng có chứa 02 viên ma túy tổng hợp.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 23 giờ 05 phút ngày 24/9/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần G đã xác định: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine thu giữ của Quàng Văn T có khối lượng 0,87 gam (ký hiệu M1), gửi giám định toàn bộ; 02 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 0,19 gam (ký hiệu M2), gửi giám định toàn bộ.

Tại Bản kết luận giám định số: 1455/KL-KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện B đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M1 gửi giám định thu giữ của Quàng Văn T là chất ma túy, loại Heroine. Mẫu các viên nén màu hồng ký hiệu M2 thu giữ của Quàng Văn T là chất ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định M1 là 0,75 gam, M2 là 0,03 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine và Metham phetamine về để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.

Tại bản Cáo trạng số: 171/CT-VKSTG ngày 10/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G đã truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có chứa 01 một mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì cũ; 01 phong bì niêm phong có chứa mẫu vật được hoàn lại là M1 0,75 gam Heroine, M2 là 0,03 gam Methamphetamine.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để áp dụng mức hình phạt khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa.

Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Bị cáo không có quan điểm tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 19 giờ 20 phút, ngày 24/9/2023, tại nhà của bị cáo Quàng Văn T, ở bản Bó G, xã Quài N, huyện Tuần G, tỉnh Điện B bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,87 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 1,06 gam, Ánh tàng trữ trái phép nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-03); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL71-72); kết luận giám định (BL 75); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, bản tự khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,87 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 1,06 gam nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Quàng Văn T sinh ra và lớn lên tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B, sử dụng ma túy từ năm 2019. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố đẻ là ông Quàng Văn H được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận. Tuy nhiên HĐXX sẽ cân nhắc áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người phụ nữ không quen biết tại khu vực bản Ch, xã Quài N, huyện Tuần G, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp là hộ nghèo, là người sử dụng ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, cần bị tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có chứa 01 một mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì cũ; 01 phong bì niêm phong có chứa mẫu vật được hoàn lại là M1 0,75 gam Heroine, M2 là 0,03 gam Methamphetamine.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Về tội danh: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Văn T: 02 (Hai) năm 08 (Tám)

tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 24/9/2023.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có chứa 01 một mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì cũ; 01 phong bì niêm phong có chứa mẫu vật được hoàn lại là M1 0,75 gam Heroine, M2 là 0,03 gam Methamphetamine.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện Tuần G bàn

giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần G hồi 10 giờ, ngày 10 tháng 11 năm 2023)

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 27/11/2023./.

Cỡ chữ