vanban.org

Bản án 24/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn H số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Trần Văn H đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho bị hại là anh Tống Nguyên T tổng số tiền 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Hùng - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƯỜNG XUÂN
TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HS-ST
Ngày 28/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH TH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lê Thị Liên

- Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Vân Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TX, tỉnh TH tham gia phiên

tòa: Ông Vũ Văn H - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện TX, tỉnh TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H; sinh ngày 08 tháng 10 năm 1983 tại xã Thiệu Giang, huyện TH, tỉnh TH.

Nơi cư trú: Thôn T Thôn, xã Thiệu Giang, huyện TH, tỉnh TH; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc:Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Vũ Thị L; có vợ Hoàng Thị N và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

Anh Tống Nguyên T; Sinh năm 1986.

Địa chỉ: Đường Trường Chinh, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, TP. H (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Đặng V T; Sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ 13, phường LK, TP. LK, tỉnh LK (Vắng mặt).

2. Chị Trịnh Thị Mỹ H; Sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn Chu Mật, xã Thái Hòa, huyện B, TP. H (Vắng mặt).

3. Ông Nguyễn Quyết T; Sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số 7, ngõ Đình Đại, P. Cầu Diễn, quận H, TP. H (Vắng mặt).

4. Anh Đặng Quang H; Sinh năm 1981.

Địa chỉ: Đường Trường Chinh, phường Khương Thượng, quận Đ, TP. H (Vắng mặt).

5. Anh Vũ Bá T; Sinh năm 1991.

Địa chỉ: Phố Hồng Mai, P. Quỳnh Lôi, quận H, TP. H(Vắng mặt).

6. Anh Nguyễn Quốc V; Sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số 37, tổ 1, phường Khương Thượng, quận Đ, TP. H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/01/2023, Trần Văn H, sinh năm 1983, trú tại thôn T Thôn, xã Thiệu Giang, huyện TH, tỉnh TH, có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-323.10 di chuyển từ huyện Như Xuân đi huyện TX, tỉnh TH. Đến khoảng 08 giờ 45 phút khi đến Km 583 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn Thành Đon, xã T Thành, huyện TX, tỉnh TH phát hiện phía trước đầu xe ô tô khoảng 10 mét có một xe lôi (dạng xe tự chế) nên H đã đánh lái sang phần đường bên trái để vượt; khi xe ô tô vượt song song với xe tự chế thì phát hiện phía trước có xe ô tô đi ngược chiều, do khoảng cách quá gần nên H đã phanh gấp làm xe ô tô bị rung lắc trượt lết về phía trước rồi đâm vào phần đầu bên trái xe của ô tô đi ngược chiều biển kiểm soát 30H-951.28 do anh Đặng V T, sinh năm 1993, trú tại phường LK, thành phố LK, tỉnh LK điều khiển, trên xe trở 06 người gồm có: chị Trịnh Thị Mỹ Huyền, sinh năm 1994; anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1979; anh Nguyễn Quyết T, sinh năm 1965; anh Đặng Quang H, sinh năm 1981; anh Vũ Bá T, sinh năm 1991 và anh Tống Nguyên T, sinh năm 1986 đều trú tại thành phố HN, vụ việc làm xe bị dồn ép đẩy tì vào rào chắn kim loại bên lề đường của xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28. Hậu quả, hai xe ô tô bị hư hỏng và 06 những người ngồi trên xe ô tô biển số 30H-951.28 bị thương nhẹ.

Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 12/01/2023 và phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với bị cáo Trần Văn H xác định: Không phát hiện thấy nồng độ cồn trong hơi thở của Trần Văn H và âm tính với chất ma túy.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại km 583 đường Hồ Chí Minh thuộc thôn Thành Đon, xã T Thành, huyện TX, tỉnh TH đoạn đường thẳng được rải nhựa tương đối bằng phẳng, không bị che khuất tầm nhìn, có vạch kẻ nét đứt màu vàng chia đôi làn đường thành hai chiều xe chạy; lòng đường rộng 6,3m, hai bên là lề rộng 80cm và có dải lan can kim loại cao 80cm. Từ T tâm hiện trường cách 80m về hướng đi xã T Thành có biển báo hiệu giao thông “Giao nhau với đường không ưu tiên” trên đường không có camera an ninh. Quá trình khám nghiệm hiện trường chọn chiều từ xã T Thành đi xã Luận Thành, huyện TX làm chiều khám nghiệm; lấy lề đường bên phải theo hướng từ xã Luận Thành đi xã T Thành, huyện TX làm lề chuẩn; lấy cột mốc ký hiệu “km 583” làm điểm định vị.

Cách điểm định vị 26m về phía Đông Nam (hướng đi xã T Thành) có 01 tổ hợp gồm 02 vết tì trượt màu đen (dạng cao su), song song cách nhau 20cm. Tổ hợp vết liên tục, cùng chiều khám nghiệm cụ thể: Một vết dài 13,4m, rộng 12cm, đầu vết cách lề chuẩn là 2,7m và 01 vết dài 14,6m, rộng 12,5m, đầu vết cách lề chuẩn 3,15m. Cuối tổ hợp vết kết thúc tại mặt lăn bánh sau cùng bên trái xe ô tô biển số đăng ký 36C-323.10 và cách lề chuẩn là 2,25m (Ký hiệu V1).

Cách đầu vết V1 khoảng cách 1,6m về bên phải có 01 (một) tổ hợp gồm 02 (hai) vết tì trượt màu đen dạng cao su, liên tục, cùng chiều khám nghiệm, song song và cách nhau 20cm, cụ thể: 01 vết dài 15,5m; rộng 12,5m, đầu vết cách lề chuẩn là 5,05m và 01 vết dài 15,35m; rộng 12,5m, đầu vết cách lề chuẩn là 4,7m. Cuối tổ hợp vết kết thúc tại mặt lăn bánh sau sau cùng bên phải xe ô tô biển số đăng ký 36C-323.10 (Ký hiệu V2).

01 xe ô tô tải biển số đăng ký 36C-323.10 đang trong trạng tắt máy, đầu xe quay hướng Tây Bắc. Cạnh trái đầu xe đang tì đè lên cạnh trái đầu xe ô tô biển số đăng ký 30H-951.28. Trục bánh trước bên trái xe cách lề chuẩn là 1,35m và cách điểm định vị là 7,2m. Trục bánh sau cùng bên trái cách lề chuẩn là 2,25m và cách điểm định vị là 12m (Ký hiệu V3).

Cách trục sau cùng bên trái xe ô tô biển số đăng ký 36C-323.10 khoảng cách 1,55m về hướng Tây có 01 (một) tổ hợp mảnh vỡ nhựa màu trắng, đen kích thước (6,8 x 3,3)m. Tâm vết cách lề chuẩn là 50cm (Ký hiệu V4).

Cách trục bánh sau cùng bên trái xe ô tô biển số đăng ký 36C-323.10 khoảng cách 5,8m về hướng Bắc có 01 (một) tổ hợp mảnh vỡ nhựa, kích thước (2,3 x 0,9)m. Tâm vết cách lề chuẩn là 1,75m và nằm ở mặt đường ngay phía dưới trục bánh xe trước bên trái xe ô tô biển số 30H-951.28. Kiểm tra vết phát hiện có 07 ốc vít kim loại (Ký hiệu V5).

01 xe ô tô biển số đăng ký 30H-951.28 đang trong trạng thái đỗ, tắt máy, đầu xe quay hướng đi xã T Thành. Thành xe bên phải đang tì ép thành lan can kim loại. Trục bánh trước bên trái cách trục bánh trước bên trái xe ô tô biển số đăng ký 36C-323.10 là 0,8m và cách điểm định vị là 6,3m, trục bánh sau bên phải cách điểm định vị là 2,9m (Ký hiệu V6).

01 (một) vết tì trượt không liên tục màu đỏ, dạng sơn, dài 5,05m, rộng 20cm. Vết cao cách mặt 50cm – 70cm. Vết nằm tại mặt ngoài lan can bên trái theo chiều khám nghiệm. Vết cùng chiều khám nghiệm. Đầu vết cách lề chuẩn là 70cm và cách điểm định vị là 3,1m. Cuối vết cách lề chuẩn là 70cm (Ký hiệu V7).

- Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Khám phương tiện xe ô tô biển số đăng ký 36C-323.10: Mặt trước ba đờ sốc trước đến mặt trước ốp nhựa bên phải đầu xe cách thành xe bên trái 43cm có vết cà trượt làm mòn sơn màu xanh, kích thước (43 x 50)cm. Vết có chiều từ trước về sau, chếch từ phải sang trái. Bề mặt vết bám dính chất màu đỏ dạng sơn. Vết cao cách mặt đất (70 – 120)cm. Vết làm vỡ cụm đèn phía trước bên phải, bung bật ốp nhựa bên phải đầu xe, cong vênh cánh cửa đầu xe bên trái và ốc định vị gông nhíp cầu 1 bên lái bị đứt gãy, bung bật khỏi vị trí ban đầu.

Khám phương tiện xe ô tô biển số đăng ký 30H-951.28: Từ mặt trước ba đờ sốc trước cách thành xe bên trái 20cm lên mặt trước bên trái nóc ca pô đến mặt ngoài ốp bên trái tai xe có vết cà trượt, kích thước (20 x 148)cm. Vết có chiều từ trước về sau, chếch từ trái sang phải. Bề mặt vết bám dính chất màu xanh dạng sơn. Vết cao cách mặt đất (54 – 130)cm. Vết làm vỡ móp méo góc bên trái ba đờ sốc trước, cong vênh nóc ca pô theo chiều từ dưới lên trên, từ trước về sau, vết cao cách mặt đất (50 – 78)cm

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 12/01/2023 của trạm y tế thị trấn TX, huyện TX xác định: Chị Trịnh Thị Mỹ Huyền bị 01 xây xước da không rõ hình tại cung lông mày trái, kích thước 1,7x0,5cm và 01 xây xước da không rõ hình trên vùng mý lông mắt trái, kích thước 1,0x0,5cm; anh Vũ Bá T, qua xem xét không phát hiện thấy thương tích gì; anh Đặng V T, phát hiện mắt trái miên mạc bị đỏ; anh Đặng Quang H, có một vết mặt dưới ngoài cằm có vết xây xước da không rõ hình, kích thước 3,0x1,0cm, chiều vết từ trên xuống dưới; anh Nguyễn Quyết T, phát hiện mặt trước ngoài ½ cẳng chân phải có vết xây xước da không rõ hình, kích thước 07x01cm, chiều vết từ phải sang trái và anh Tống Nguyên T, phát hiện có 01 vết xây xước da không rõ hình trên vùng giữa ngực, kích thước 10x01cm, chiều vết từ trên xuống dưới.

- Kết quả trưng cầu giám định phương tiện:

Ngày 01/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện TX trưng cầu Phòng PC09, Công an tỉnh TH giám định phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 36C-323.10 và xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28.

Tại Kết luận giám định số 805/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng PC09, Công an tỉnh TH kết luận: Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước ba đờ sốc trước đến mặt trước ốp nhựa bên trái đầu xe (cách thành xe bên trái 43cm) ô tô biển kiểm soát 36C-323.10 với mặt trước ba đờ sốc trước (cánh thành xe bên trái 20cm) lên mặt trước trên nóc capô đến mặt ngoài ốp bên trái tai xe ô tô biển số 30H-951.28; tại thời điểm va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều nhau. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trong vùng mảnh vỡ nhựa (số 4) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo hướng xã Luận Thành đi xã T Thành.

Không đủ cơ sở xác định tốc độ của phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 36C-323.10 tại thời điểm xảy ra va chạm, vì Phòng kỹ thuật hình sự không có chức năng giám định kỹ thuật đối với phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 36C-323.10.

Ngày 02/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện TX trưng cầu Sở Giao thông vận tải TH giám định kỹ thuật an toàn phương tiện đối với xe ô tô biển số 36C-323.10. Tại Công văn số 54/ĐKTH-KTKĐ ngày 24/02/2023 của T tâm đăng kiểm xe cơ giới TH kết luận: Tại thời điểm kiểm tra thực tế, phương tiện xe ô tô biển số 36C-323.10 không thỏa mãn quy định về kỹ thuật an toàn phương tiện.

- Kết quả định giá thiệt hại tài sản:

Ngày 30/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện TX có công văn số 05/YC-CSĐT Yêu cầu Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh TH, định giá giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28 bị hư hỏng do tai nạn giao thông gây ra. Tại bản kết luận định giá số 28/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự tỉnh TH kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu KIA CARNIVAL, biển kiểm soát 30H-951.28, màu sơn đỏ, xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông. Thời điểm định giá ngày 12/01/2023 là 457.452.600 đồng (bốn trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm đồng).

- Về thu giữ và xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28 do Đặng V T điều khiển. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô là tài sản của anh Tống Nguyên T, sinh năm 1986, trú tại Đường Trường Chinh, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố HN. Anh Đặng V T là nhân viên công ty và có giấy phép lái xe hạng C nên ngày 12/01/2023 anh T nhờ lái. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên, kèm theo giấy tờ cho anh Tống Nguyên T.

Đối với xe ô tô tải, màu sơn xanh, biển kiểm soát 36C-323.10, có số khung LSD1AN515795, số máy 100607034977, xe bị hư hỏng. Xác định là tài sản của Trần Văn H nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô trên cho anh H, tạm giữ giấy phép lái xe hạng C của Trần Văn H chuyển theo hồ sơ vụ án.

Đối 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 36C-323.10 và 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ mang tên Bùi Ngọc Sơn, sinh năm 1978, trú tại xã Yên Thái, huyện Yên Định, tỉnh TH, Trần Văn H mua xe ô tô trên nH chưa làm thủ tục sang tên chứng nhận đăng ký theo quy định nên Cơ quan CSĐT đã chuyển các giấy tờ trên cho Đội cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện TX xử lý theo quy định.

- Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 27/4/2023 Trần Văn H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản là xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28 cho anh Tống Nguyên T với số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng), anh Tống Nguyên T không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời có đơn đề nghị xin giảm hình phạt cho Trần Văn H.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKSTX ngày 19/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện TX đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H thừa nhận bị truy tố về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như nội dung Cáo trạng là đúng, không oan.

Đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng: điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 35, 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn H hình phạt tiền từ 45.000.000đ đến 50.000.000đ. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bi cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Trần Văn H đã bồi thường xong thiệt hại cho bị hại anh Tống Nguyên T tổng số tiền: 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng), anh T không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng, áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo Trần Văn H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn H (đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án).

Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa sai và cống hiến cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TX, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện TX, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng không có ý kiến gì về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình điều tra người bị hại đã có lời khai và quan điểm rõ ràng. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai nhận phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; biên bản định giá tài sản, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa hôm nay. Bị cáo khẳng định việc truy tố đối với bị cáo là đúng người đúng tội; không oan, sai. Như vậy hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 8 giờ 45 ngày 12/01/2023 Trần Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-323.10 đi đến km số 583 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn Thành Đon, xã T Thành, huyện TX, tỉnh TH do vượt sai quy định, đã đâm va vào đầu xe bên trái xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28 do Đặng V T điều khiển trên xe chở theo 06 (sáu) người di chuyển theo hướng ngược lại. Hậu quả: Xe ô tô biển số kiểm soát 30H-951.28 bị thiệt hại về tài sản là 457.452.600 đồng (bốn trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm đồng). Hành vi trên của Trần Văn H đã phạm tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TX, tỉnh TH truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quy định về an toàn giao thông đường bộ, hậu quả gây thiệt hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển xe ô tô tham gia giao thông khi vượt không đảm bảo an toàn, thiếu chú ý quan sát là thực hiện không đúng Luật giao thông đường bộ, dẫn đến hậu quả thiệt hại lớn về tài sản. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn H không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và đã thực hiện xong phần trách nhiệm bồi thường dân sự trong vụ án, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố và mẹ bị cáo đều là người có công với cách mạng, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Văn H có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và đã thực hiện xong việc bồi thường cho bị hại; vụ án không có hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đối với người khác; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những nhận định trên, xét thấy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng Điều 35 BLHS xét xử bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung, để tạo điều kiện cho bị cáo Trần Văn H có cơ hội tiếp tục phấn đấu, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không đảm nhiệm chức vụ, bản thân là lao động tự do nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn H.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Quá trình giải quyết vụ án, giữa bị cáo Trần Văn H và bị hại là anh Tống Nguyên T, bị cáo H đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho anh Tống Nguyên T với tổng số tiền 350.000.000 đồng, theo biên bản bồi thường thiệt hại ngày 27/4/2023, anh T không có yêu cầu gì khác. Xét thấy sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo Trần Văn H và anh Tống Nguyên T là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy, Hội đồng xét xử cần ghi nhận thỏa thuận đó.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn H. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, cần trả lại cho bị cáo Trần Văn H.

Xác nhận ngày 21/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TX, tỉnh TH đã trả lại cho anh Tống Nguyên T 01 xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28 nhãn hiệu KIA CANIVAL màu sơn đỏ cùng các giấy tờ xe có liên quan. Ngày 04/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TX, tỉnh TH đã trả lại cho anh Trần Văn H 01 xe ô tô tải, màu sơn xanh, biển kiểm soát 36C-323.10. Đối 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy chứng nhân kiểm định an toàn và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ Cơ quan CSĐT đã chuyển các giấy tờ trên cho Đội cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện TX xử lý theo quy định.

Các tình tiết khác của vụ án: Ngày 12/01/2023 anh Đặng V T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30H-951.28, chở 06 người gồm: Chị Trịnh Thị Mỹ Huyền; anh Nguyễn Quốc V, anh Nguyễn Quyết T; anh Đặng Quang H; anh Vũ Bá T và Tống Nguyên T cùng trú tại thành phố HN. Sau khi xảy ra va chạm chỉ bị xây xước nhẹ đã từ chối giám định thương tích, không yêu cầu phải bồi thường về dân sự.

Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 292; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn H số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Trần Văn H đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho bị hại là anh Tống Nguyên T tổng số tiền 350.000.000đ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) theo biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại ngày 27/4/2023.

- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Văn H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn H.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại hồ sơ vụ án)

- Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ