- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - Tàng trữ trái phép chất na túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T L TỈNH H N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HS-ST Ngày: 23 - 3 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI C NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T L - TỈNH H N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - C tọa phiên toà: ông Lại Xuân Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Ngọc Giao và bà Lê Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T L, tỉnh H N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T L, tỉnh H N tham gia phiên toà: ông Từ Văn Tiền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T L, tỉnh H N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn C - sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn Đ H, xã T T, huyện T L, tỉnh H N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D và bà Đào Thị L; có vợ là Ngô Thị P và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: ngày 03/5/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố P L, tỉnh H N xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 30/11/2018, bị Công an huyện T L, tỉnh H N xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/12/2022 đến ngày 30/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H N, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: anh Lưu Văn N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy, loại ma túy thường sử dụng là Heroine. Khoảng 10 giờ ngày 24/12/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên C đi bộ từ nhà ra ngoài đường, rồi đi nhờ xe mô tô của một người đi đường không quen biết đến khu vực cầu B L thuộc địa phận thôn B L, xã T N, huyện T L, tỉnh H N để tìm mua ma túy về sử dụng. Sau khi xuống xe, C đi bộ một đoạn thì gặp một người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) đang đứng cạnh xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) ở ven đường, có dáng vẻ nghiện. C đi lại gần người nam giới này hỏi: “anh có hàng không để cho em cái trăm rưỡi?”, ý C hỏi mua của người này 150.000 đồng tiền ma túy. Người nam giới trả lời: “có, đưa tiền đây”; biết người này có ma túy để bán, nên C lấy ra số tiền 150.000 đồng đưa cho người nam giới. Người này cầm tiền do C đưa và đưa lại cho C 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục. Biết là ma túy cần mua, nên C cầm ở tay trái, còn người nam giới điều khiển xe mô tô đi đâu C không biết. Đến khoảng 10 giờ 50 phút, khi C đang đi bộ trên đoạn đường thuộc địa phận thôn B L, xã T N, huyện T L, tỉnh H N, thì bị tổ công tác Công an xã T N, huyện T L phối hợp với Công an xã T H, huyện T L làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện nghi vấn, kiểm tra, bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng; sau đó, bàn giao đối tượng cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện T L để xử lý theo quy định.
* Vật chứng thu giữ: thu trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn C 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn C, song Cơ quan CSĐT Công an huyện T L không thu giữ tài liệu, đồ vật gì có liên quan.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T L ra Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H N giám định đối với vật chứng thu giữ niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tại bản Kết luận giám định số 764/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh H N kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,204g (Không phẩy hai trăm linh bốn gam) loại: Heroin (Heroine)”.
Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSTL ngày 02/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T L đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T L giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự - xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 đến 24 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định.
- Bị cáo Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: khoảng 10 giờ 50 phút ngày 24/12/2022, tại đoạn đường thuộc địa phận thôn B L, xã T N, huyện T L, tỉnh H N, Nguyễn Văn C đang tàng trữ trái phép 0,204g (không phẩy hai trăm linh bốn gam) ma túy loại Heroine trong lòng bàn tay trái, mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Công an xã T N, huyện T L phối hợp với Công an xã T H, huyện T L làm nhiệm vụ tuần tra, phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ trái phép Heroine của Nguyễn Văn C là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tàng trữ Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Hội đồng xét xử kết luận: hành vi của Nguyễn Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T L truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội, mà lại tiếp tục tàng trữ trái phép Heroine để sử dụng cho bản thân. Qua đó, thể hiện sự coi thường pháp luật, không chịu cải tạo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: đối với số ma túy hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, sử dụng; nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ và đối tượng bán ma tuý cho Nguyễn Văn C: Cơ quan CSĐT Công an huyện T L đã tập trung đấu tranh, song ngoài lời khai của C thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện T L không có căn cứ xác định nguồn gốc số ma túy đã thu giữ và đối tượng bán ma túy cho C.
[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (24/12/2022).
- Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định trong phong bì niêm phong số 764/KTHS, mặt trước phong bì ghi chữ “Mẫu vật hoàn trả QT01” (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện T L).
3. Án phí: bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh H N; - VKSND tỉnh H N; - VKSND huyện T L; - Cơ quan CSĐT Công an huyện T L; - Chi cục THA DS huyện T L; - Trại tạm giam Công an tỉnh H N; - Sở Tư pháp tỉnh H N; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - C TỌA PHIÊN TÒA Lại Xuân Cảnh |