- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Yên - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HS-ST Ngày 31 tháng 3 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TD, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Đình La
- Bà Hoàng Thị Hanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Phương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Trần Văn Y, sinh ngày 09/9/1989, tại xã TD, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn YĐ, xã TD, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ văn hoá: 12/12; chức vụ Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (hiện nay đang đình chỉ sinh hoạt Đảng); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Ông Đào Văn M, sinh năm 1943 (đã chết).
Nơi cư trú: Thôn NT 1, xã AH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Bà Đầu Thị Th1, sinh năm 1943 (vắng mặt).
+ Bà Đào Thị Ng sinh năm 1972 (vắng mặt).
+ Ông Đào Văn D, sinh năm 1975 (vắng mặt).
+ Ông Đào Văn Th 2, sinh năm 1982 (vắng mặt).
+ Ông Đào Văn V1, sinh năm 1970 (có mặt)
Đều cư trú: Thôn NT 1, xã AH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Bà Đào Thị H, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Xã Ia Dơk, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
+ Bà Đào Thị Ng, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Xã DT, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
+ Bà Đào Thị Ph, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Xã ID, huyện ĐC, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Th1, bà Ng, ông D, ông Th2, bà H, bà Ng, bà Ph: Ông Đào Văn V1, sinh năm 1970, theo văn bản ủy quyền ngày 26/9/2022, (có mặt).
Nơi cư trú: Thôn NT 1, xã AH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp.
Địa chỉ: Phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1983 - Chức vụ: Giám đốc (có mặt).
Nơi cư trú: Tổ dân phố TGiã, phường KQ, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn NT 1, xã AH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Văn Y có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Phước cấp, có giá trị đến ngày 05/12/2023. Y là lái xe ô tô của Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp. Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 24/9/2022, Y điều khiển xe ô tô tải, có thùng kín, biển kiểm soát 88C - 079.81 từ nhà ở xã TD, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc chở hàng là các túi bao bì đến cơ sở của Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp ở xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc để hoàn thiện sản phẩm. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Y điều khiển xe ô tô đến đoạn đường tỉnh lộ 306 thuộc địa phận thôn NT 1, xã AH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng TD đi Lập Thạch với vận tốc khoảng 60km/giờ. Y quan sát thấy biển báo giao nhau với đường không ưu tiên và gờ giảm tốc, vạch kẻ cho người đi bộ sang đường. Sau đó, Y điều khiển xe ô tô đi giáp với vạch kẻ giữa đường, giảm tốc độ xuống khoảng 50km/giờ để đi qua khu vực ngã tư giao nhau và quan sát phía trước bên phải cách khoảng 20 mét đến 25 mét có 01 xe đạp điện do ông Đào Văn M điều khiển trên đoạn đường từ cánh đồng Man Công hướng ra đường tỉnh lộ 306. Do chủ quan nghĩ rằng ông M sẽ nhường đường cho Y nên Y không giảm tốc độ và tiếp tục điều khiển xe ô tô đi qua ngã tư giao cắt. Khi xe ô tô do Y điều khiển đi đến khu vực ngã tư giao cắt thì ông M cũng điều khiển xe đạp điện sang đường và đi đến vị trí giữa của chiều đường Y đang đi, cách xe Y khoảng 03 mét đến 04 mét. Y đánh lái sang trái để tránh ông M nhưng do khoảng cách gần nên phần đầu xe ô tô bên phải do Yđiều khiển đã đâm vào phần bên trái yên xe đạp điện do ông M điều khiển làm ông M và xe đạp điện bị đẩy về phía trước ngã văng xuống nền đường. Hậu quả ông M bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc và tử vong cùng ngày; xe ô tô, xe đạp điện bị hư hỏng nhẹ.
Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Công an huyện TD đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành đo nồng độ cồn của Trần Văn Y sau khi tai nạn xảy ra, kết quả: Tại phiếu đo nồng độ cồn qua hơi thở hồi 09 giờ 14 phút ngày 24/9/2022 thể hiện kết quả đo nồng độ cồn của Trần Văn Y là 0,000mg/l.
Tại Kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Trần Văn Y ngày 24/9/2022 thể hiện Trần Văn Y âm tính với ma túy.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 153/TT ngày 26/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Nguyên nhân chết của ông Đào Văn M là chấn thương sọ não nặng/đa thương tích.
Tại kết luận giám định số 2892/KLGĐ ngày 29/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Không tìm thấy cồn trong mẫu máu của tử thi Đào Văn M.
Tại kết luận giám định số 2904/KLGĐ ngày 01/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong mẫu máu của tử thi Đào Văn M.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát 88C- 079.81 của Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện của chủ xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81, 01 giấy biên nhận thế chấp phương tiện giao thông và giữ bản chính giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn Y; 01 xe đạp điện nhãn hiệu YAMAHA của ông Đào Văn M.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, ngày 29/9/2022, Trần Văn Y đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Đào Văn M số tiền 100.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền, ông Đào Văn V1 là đại diện cho gia đình nạn nhân không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác, đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKSTD ngày 24/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Trần Văn Y về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn Y từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô từ 01 năm đến 02 năm; về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp 01 xe ô tô biển kiểm soát 88C- 079.81, nhãn hiệu HYUNDAI, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện của chủ xe biển kiểm soát 88C - 079.81, 01 giấy biên nhận thế chấp phương tiện giao thông và giữ bản chính giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81; trả lại cho Trần Văn Y 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn Y nhưng tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án; trả lại cho ông Đào Văn V1 01 xe đạp điện nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn đỏ đen.
Bị cáo Trần Văn Y không bào chữa, không tranh luận và không đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Trần Văn Y tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Trần Văn Y có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 05 giờ 50 phút ngày 24/9/2022, Yên điều khiển xe ô tô tải, có thùng kín, biển kiểm soát 88C- 079.81, đi từ nhà ở xã TD, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc chở hàng đến cơ sở của Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp có địa chỉ tại xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc để hoàn thiện sản phẩm. Khi Y điều khiển xe ô tô đến ngã tư giao cắt nằm trên đoạn đường tỉnh lộ 306 thuộc địa phận thôn NT 1, xã AH, huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng TD đi Lập Thạch. Do Y không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm và khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nên xe ô tô do Yên điều khiển đã đâm vào xe đạp điện do ông Đào Văn M điều khiển theo hướng vuông góc từ phải sang. Hậu quả ông M tử vong, xe ô tô và xe đạp điện bị hư hỏng nhẹ.
Hành vi của Trần Văn Y không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ là biển cảnh báo nguy hiểm, không giảm tốc độ khi đến đoạn đường ngã tư giao cắt đã vi phạm Điều 24 (nhường đường tại nơi giao nhau) của Văn bản hợp nhất Luật Giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn giao thông, làm ông Đào Văn M tử vong đã vi phạm khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ (các trường hợp phải giảm tốc độ). Hành vi của Trần Văn Y đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 24 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ …”.
Khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư số 31 quy định các trường hợp phải giảm tốc độ:
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm…
3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức..”.
Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;…”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác nên cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Trần Văn Y chưa có tiền sự, tiền án. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện cho gia đình bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại cũng có lỗi là điều khiển xe đạp điện từ đường không ưu tiên không nhường đường cho xe đang đi trên đường ưu tiên, đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng tự cải tạo. Bản thân bị hại cũng có một phần lỗi nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sinh sống bằng nghề lái xe ô tô cho nên cần thiết phải áp dụng biện pháp cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn Y đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Đào Văn M số tiền 100.000.000đồng. Đại diện gia đình ông Đào Văn M đã nhận đủ số tiền trên. Nay ông Đào Văn V1 là người đại diện hợp pháp của bị hại và là người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà Th1, bà Ng, ông D, ông Th2, bà H, bà Ng, bà Phg không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên cần xác nhận việc bồi thường trên.
. Về vật chứng:
- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát 88C- 079.81, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện của chủ xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81, 01 giấy biên nhận thế chấp phương tiện giao thông và giữ bản chính giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81, quá trình điều tra xác định là tài sản của Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp do bà Hoàng Thị H1 làm Giám đốc nên trả lại cho Công ty là phù hợp.
- Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn Y cần trả lại cho Trần Văn Y nhưng tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 xe đạp điện nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn đỏ đen, quá trình điều tra xác định là tài sản của gia đình ông Đào Văn M nên trả lại cho ông Đào Văn V1 là đại diện gia đình ông M là phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo Trần Văn Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TD, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Trần Văn Y 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn Y cho Ủy ban nhân dân xã TD, huyện BX, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Cấm bị cáo Trần Văn Y hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 (một) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xác nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng).
5. Về xử lý vật chứng:
5.1. Trả lại cho Công ty TNHH MTV May Hoàng Hiệp 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát 88C- 079.81; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện của chủ xe biển kiểm soát 88C - 079.81; 01 giấy biên nhận thế chấp phương tiện giao thông và giữ bản chính giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 88C - 079.81.
5.2. Trả lại cho Trần Văn Y 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn Y nhưng tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án.
5.3. Trả lại cho ông Đào Văn V1 01 xe đạp điện nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn đỏ đen.
6. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Trần Văn Y phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo Bản án về phần bồi thường thiệt hại trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại; - Nguyên đơn dân sự; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc - VKSND huyện TD; - Công an huyện TD; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Chi cục thi hành án dân sự huyện TD; - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, văn phòng. Hội thẩm nhân dân Tạ Văn Chinh Đoàn Văn Đoan | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thanh Thảo |