- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [ 1 ] Tuyên bố các bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HS-ST Ngày 21 tháng 4 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Văn Đạt.
Các Hội thẩm: Ông Lương Văn Công
Bà Nguyễn Lê Vinh Hương.
Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn: Kiểm sát viên:
Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2023/TLST-ST ngày 07 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS, ngày 10/4/2023 đối với các bị cáo:
1.Chu Văn D: Sinh năm 1989 tại xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: xóm T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên,tạm trú Công ty TNHH Thiếc H, xã C, huyện Q, Nghệ An, nghề nghiệp lao động tự do, trình độ văn hóa 11/12, dân tộc Tày, giới tính nam, tôn giáo không, quốc tịch Việt Nam, con ông Chu Văn B và bà Nguyễn Thị M, vợ con, chưa có, tiền án, tiền sự, nhân thân không, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 đến nay có mặt.
2. Hoàng Văn Đ: Sinh năm 1977, tại xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, nơi cư trú: xóm 4, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên,tạm trú Công ty TNHH Thiếc H, xã C, huyện Q, Nghệ An, nghề nghiệp lao động tự do, trình độ văn hóa 05/12, dân tộc Kinh, giới tính nam,tôn giáo không, quốc tịch Việt Nam, con ông Hoàng Văn B và bà Nguyễn Thị L, vợ Nguyễn Thị T, con có 03 người lớn sinh năm 2001 và nhỏ sinh năm 2014, tiền án, tiền sự, nhân thân không, bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2022 đến nay có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1994, nơi cư trú bản N, xã C, huyện Q, Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 14 giờ 0 phút ngày 27 tháng 12 năm 2022, Công an xã C, huyện Q phát hiện hai đối tượng là Chu Văn D và Hoàng Văn Đ có biểu hiện nghi vấn về hoạt động phạm tội ma túy.
Khi thấy lực lượng Công an Hoàng Văn Đ lao xe ngã xuống mương nước bên đường đồng thời 01 gói giấy màu vàng có chứa chất bột màu trắng ( nghi là Hê rô in) rơi ra bên cạnh xe máy. Tổ công tác Công an xã C tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chu Văn D và Hoàng Văn Đ, thu giữ 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa chất bột nén màu trắng, thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN, loại xe Đrem, xe không có biển số.
Về vật chứng vụ án:
Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 27/12/2022 của của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q xác định 01 gói thu giữ của Chu Văn D và Hoàng Văn Đ có khối lượng là 0,145 gam ma túy.
Kết luận giám định số 67 KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 04/01/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ an kết luận mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Chu Văn D và Hoàng Văn Đ gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin). Số chất bột màu trắng (01 gói) có khối lượng là 0,145 gam.
Bản cáo trạng số: 30/CT-VKSHS, ngày 05/ 4 /2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS xử phạt các bị cáo Chu Văn D từ 13 đến 15 tháng tù, Hoàng Văn Đ từ 12 đến 14 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định thu của, tiêu hủy 02 que test ma túy của các bị cáo, giao xe mô tô không có biển kiểm soát cho Công an huyện Q xử lý theo quy định.
Chiếc xe máy mà anh Nguyễn Hữu T cho bị cáo Chu Văn D mượn cùng với Hoàng Văn Đ đi mua ma túy, thì anh T không xuất trình được giấy mua bán, và mua với ai, ở đâu, chiếc xe này không có đăng ký và biển kiểm soát hiện này cũng đã bị mất, do vậy không xác định được chiếc xe máy này là chủ sở hữu là của anh T. Phiếu trả lời về xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an huyện Q thì không tìm kiếm được chủ sở hữu của chiếc xe máy này. Do vậy chưa xác định được chiếc xe máy này là thuộc quyền sở hữu của ai và hiện nay Công an huyện Q đã ra thông báo tìm kiếm chủ sở hữu chiếc xe này nhưng chưa tìm kiếm được. Do vậy cần giao chiếc xe này lại cho Công an huyện Q xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông có bán ma túy cho hai bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ hiện tại không xác định được họ, tên, tuổi địa chỉ nên không có cơ sở xử lý trách nhiêm hình sự.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Những chứng cứ xác định có tội, chứng xác định không có tội.
Lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ thì các bị cáo phạm tội như sau: Vào hồi 14 giờ, ngày 27/12/2022, tại xóm B, xã Châu T, huyện Q, Công an xã C bắt quả tang các bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ có hành vi tàng trữ 0,145 gam Hêrôin với mục đích để sử dụng. Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố các bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
[ 3 ] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất của vụ án , đây là mô ̣t vu ̣ án nghiêm trọng . Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm vào độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Do đó, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo giáo dục và góp phần phòng ngừa chung.
Xét nhân thân của các bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ không có tiền án, tiền sự, nhân thân, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, cha của bị cáo Chu Văn D được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, mẹ của bị cáo Hoàng Văn Đ được tặng thưởng Giấy khen của Tổng đội trưởng Thanh niên xung phong 572 trong kháng chiến, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS, đối với bị cáo Chu Văn D là người khởi xướng trong vụ án, cần áp dụng một mức hình phạt cao hơn đối với Hoàng Văn Đ. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, do vậy cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có thời gian cải tạo tốt trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[ 4 ] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin còn lại sau giám định và 02 que test ma túy của các bị cáo.
Đối với chiếc xe máy mà các bị cáo dùng để đi mua ma túy sử dụng là mượn của anh Nguyễn Hữu T, nhưng anh không xuất trình được giấy mua bán và đăng ký xe, biển kiểm soát thì đã bị mất,và chiếc xe này mua của một người không quen biết ở thành phố Vinh cho nên chưa xác định được anh T là chủ sở hữu, Công an huyện Q đã ra Thông báo tìm chủ sở hữu phương tiện, nhưng chưa có kết quả, do vậy cần giao lại cho Công an huyện Q để xử lý theo quy định.
[ 5 ] Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[ 1 ] Tuyên bố các bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Chu Văn D: 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 27/12/2022.
Bị cáo: Hoàng Văn Đ: 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 27/12/2022.
[ 2 ] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy số Hê rô in còn lại sau giám định và 02 que test thử ma túy của các bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ, Giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Loncin, loại Dream không có biểm kiểm soát, số máy I.C 152FMG-1-A00001434, số khung Nj100200001934, xe đã qua sử dụng thu của các bị cáo cho Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An xử lý theo quy định chi tiết thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.
[ 3 ] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, các bị cáo Chu Văn D và Hoàng Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí HSST theo quy định.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết lên Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An,
| Nơi nhận -PGĐ kiểm tra TA Tỉnh Nghệ An. -VKSND huyện Q. -VKSND tỉnh Nghệ An. -Công an huyện Q. - Những người tham gia tố tụng. - Chi cục THADS huyện Q. - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An. -Lưu hồ sơ vụ án. -UBND xã Y và xã P huyện Đ, Thái nguyên. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) ĐÀO VĂN ĐẠT |