- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Trần Thị Trúc L (tên gọi khác: Y) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HS-ST. Ngày: 17/02/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Trần Thanh Phương.
2. Lê Thị Kim Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tứ – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2023/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 01/02/2023 và Thông báo số 55/TB-TA ngày 13/02/2023, đối với bị cáo:
Trần Thị Trúc L (tên gọi khác: Y), sinh năm 1992, tại Đồng Tháp.
HKTT: Ấp T, xã T1, huyện T2, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thành H, sinh năm 1970 và bà Trần Ngọc H1, sinh năm 1974; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có hai chị em; Bị cáo có chồng tên Nguyễn Thành Đạt, sinh năm 1991 (đã L hôn) và có 01 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/9/2022 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nhơn Trạch.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 05/9/2022, Trần Thị Trúc L đến khu vực phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mua của tên Ngọc (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 gói ma túy với giá 3.100.000 đồng, cất giấu trong túi áo khoác màu tím. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, L đi bộ đến khu vực ấp Bà Trường, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 1889/KL-KTHS ngày 12/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 9,7229 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: 9,6250 gam”.
* Vật chứng vụ án:
- 01 áo khoác màu tím, trong túi áo có:
- 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, kích thước 13 cm x 07 cm (Đã được niêm phong).
- 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, kích thước 06 cm x 04 cm (Đã được niêm phong).
- 01 điện thoại di động bàn phím, màu đỏ, mặt trên điện thoại có chữ FORME là tài sản của L không dùng vào việc phạm tội.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSNT ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo: Trần Thị Trúc L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc L mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 1889/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai).
+ 01 (một) áo khoác màu tím.
- Trả lại 01 điện thoại di động bàn phím, màu đỏ cho Trần Thị Trúc L.
Đối với người đàn ông tên Ngọc đã có hành vi bán ma túy cho L hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng; bị cáo không tranh luận, bào chữa về hành vi của mình; bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tình tiết, vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Trúc L khai nhận: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý. Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 05/9/2022, tại ấp Bà Trường, xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, Trần Thị Trúc L đã có hành vi tàng trữ trái phép 9,7229 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Bản thân bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Thị Trúc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn cất giấu trái phép trong người để sử dụng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước.
Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách L bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để bị cáo nhận thức, cải tạo, giáo dục trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, bên cạnh sự răn đe và phòng ngừa chung của chính sách pháp luật hình sự.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 1889/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai).
+ 01 (một) áo khoác màu tím.
- Trả lại 01 điện thoại di động bàn phím, màu đỏ cho Trần Thị Trúc L.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nhơn Trạch và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).
Về án phí: Bị cáo Trần Thị Trúc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên Ngọc đã có hành vi bán ma túy cho L hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tuyên bố bị cáo Trần Thị Trúc L (tên gọi khác: Y) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc L (tên gọi khác: Y) 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/9/2022
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 1889/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai).
+ 01 (một) áo khoác màu tím.
- Trả lại 01 điện thoại di động bàn phím, màu đỏ cho Trần Thị Trúc L.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Nhơn Trạch và Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch).
Đối với người đàn ông tên Ngọc đã có hành vi bán ma túy cho L hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Thị Trúc L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H. Nhơn Trạch; - Công an H. Nhơn Trạch; - Chi cục THADS H. Nhơn Trạch; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hường |