vanban.org

Bản án 24/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 04/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo L (tên gọi khác K), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "L - Tàng trữ trái phép chất ma túy, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo L (tên gọi khác K), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HS-ST
Ngày: 04 - 5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tăng Thị Bạch Vân.

Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Tư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2023/TLST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: L; Tên gọi khác: K; Sinh ngày: …/…/……; Nơi sinh: Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp A1, xã B1, huyện C1, tỉnh D; Nghề nghiệp: Hát lô tô; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L1 (đã chết) và bà L2; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/01/2023 cho đến nay. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông LQ (tên gọi khác P); Sinh năm: ……; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tinh Sỏ

́c Trăng. (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt)

Người làm chứng:

1/. Ông LC; Sinh năm: ……; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt)

2/. Ông LC1; Sinh năm: ……; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt)

3/. Ông LC2; Sinh năm: ……; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt)

4/. Ông LC3 (tên gọi khác T); Sinh năm: ……; Nơi cư trú: Ấp A2, xã B2, huyện C2, tỉnh D. (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt)

5/. Ông LC4 (tên gọi khác N); Sinh năm: ……; Nơi cư trú: Ấp A3, xã B3, huyện C3, tỉnh D. (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt)

Người chứng kiến: Bà V; Sinh năm: ……; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tinh Sỏ

́c Trăng. (vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

L (tên gọi khác K) đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 09/12/2022 tại địa phận ấp A, xã B, huyện C, cụ thể như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 08/12/2022, L cùng vớ i LC4 (tên gọi khác N) và LC3 (tên gọi khác T) hát lô tô ta ̣i đoàn lô tô E đóng ta ̣i ấp A, xã B, huyện C. Lúc này, LQ (tên gọi khác P), LC2, LC1 và LC đang ngồi uống bia phia dướ

́ i sân khấu của đoàn lô tô. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi hát lô tô xong nhóm của LQ rủ L, LC4 và LC3 cùng xuống uống bia. Trong lúc ngồi uống bia vớ i nhau, L hỏi LQ “Anh có nỏ không, cây nỏ của em bi ̣ bể rồi”, LQ trả lờ i “Không có, để tao về kiếm mấy ống miểng (ống thủy tinh) lú c trướ c tao bỏ, kiếm gặp tao thổi cho cây nỏ”. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 09/12/2022 thì cả nhóm nghỉ nhậu, LC2, LC1, LC, L, LC4 và LC3 đi theo LQ về nhà của LQ ở ấp A, xã B, huyện C. Khi về đến nhà, LQ đi ra trướ c lô ̣ nhựa că ̣p nhà lấy ra mô ̣t bó ống thủy tinh gồm 09 ống được quấn băng keo rồi vào nhà bà V lấy chai gas mini có gắn sẵn đầu khò lử a, rồi cùng nhau đi qua khu đất trống că ̣p hông nhà của bà V để chuẩn bi ̣ làm nỏ thủy tinh. Trong lúc LQ đang khò 01 đầu ống thủy tinh thành hinh bầ

̀u du ̣c nhưng chưa khoét lỗ thi ̀ có lực lượng Công an huyện Kế Sách đi tuần tra đến kiểm tra, nên LC cầm ống thủy tinh đang khò nhét vào túi quần và cầm bó thủy tinh gồ m 08 ống cha ̣y về phiá sau khu đất trống trốn. Lúc này L lấy từ trong túi xách ra gói thuốc lá nhãn hiê ̣u Seven Diamond có chứ a gói nilong được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất ma túy và quăng xuống nền ga ̣ch cách chỗ L ngồi khoảng 01 mét thì bi ̣ lực lượng Công an phát hiê ̣n, lập biên bản kiểm tra hành chính và tạm giữ 01 gói nilong được hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, 08 ống thủy tinh màu trắng được quấn băng keo và 01 ống thủy tinh bị vở thành nhiều mảnh, 01 đầu khò gas và chai gas mini đã qua sử dụng; đồng thời, đưa các đối tượng về trụ sở cơ quan Công an làm việc. Tại cơ quan điều tra, L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, L khai nhận gói nilong được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất ma túy được cất giấu trong gói thuốc lá nhãn hiê ̣u Seven Diamond là của L mua trước đó khoảng 02 ngày tại xã B4, huyện C4, tỉnh D1 với giá 200.000 đồng để sử dụng. Khi bị lực lượng Công an kiểm tra, do lo sợ bị phát hiện có cất giấu ma túy trong người nên L đã ném xuống đất thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ.

Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu vào ngày 09/12/2022 cho thấy LQ, LC2, LC và LC4 âm tính với chất ma túy, còn L và LC3 dương tính với chất ma túy do đã có hành vi sử dụng chất ma túy từ trước đó.

Tại Bản Kết luận giám định số: 121/KLGĐ-KTHS ngày 11/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1556 gam, loại Methamphetamine.

Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu chứng cứ thu được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kế Sách đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với L từ ngày 17/01/2023 cho đến nay.

Đối với LQ, LC2, LC1, LC, LC4 và LC3, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã làm rõ những người này không biết việc L tàng trữ trái phép chất ma túy; hành vi tàng trữ các ống thủy tinh để chế tạo thành dụng cụ sử dụng chất ma túy của LQ và hành vi lấy các ống thủy tinh nhét vào túi quần rồi cha ̣y trốn của Cảnh cũng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý hình sự đối với những người này; riêng đối với LQ thì Cơ quan điều tra đã có văn bản chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thu giữ, tạm giữ 01 (một) gói ni long được hàn kin bên trong có

́ chứ a tinh thể rắn màu trắng, là ma túy, có khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,1137 gam, đã được niêm phong; 08 (tám) ống thủy tinh màu trắng được quấn băng keo và 01 (một) ống thủy tinh bị vỡ thành nhiều mảnh, đã được niêm phong; 01 (một) đầu khò gas và chai gas mini, đã qua sử dụng và được niêm phong.

Tại Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS-H.KS ngày 28/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kế Sách để xét xử L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi luận tội và tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

* Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo L mức án từ 01 (một) năm tù đến 02 (hai) năm tù.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ các vật chứng đang bị tạm giữ.

* Về trách nhiệm dân sự: Không có.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố và thừa nhận việc bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kế Sách; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông LQ, những người làm chứng ông LC, ông LC1, ông LC2, ông LC3, ông LC4 và người chứng kiến bà Tuyền vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, những người này đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án; đồng thời, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách và bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo L đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với Bản Kết luận giám định số: 121/KLGĐ-KTHS ngày 11/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được, từ đó đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Vào rạng sáng ngày 09/12/2022, tại địa phận ấp A, xã B, huyện C, bị cáo đã có hành vi cất giấu, tàng trữ trong người 01 gói ma túy có khối lượng 0,1556 gam, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiê ̣n, lập biên bản kiểm tra hành chính và tạm giữ tang vật là gói ma túy nêu trên. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với các hành vi của LQ, LC2, LC1, LC, LC4 và LC3, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm rõ từ đó xác định các hành vi của những người này không đủ yếu tố cấu thành tội phạm và không đề nghị xử lý hình sự, là phù hợp.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS-H.KS ngày 28/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo, không bỏ lọt tội phạm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cáo trạng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nghiện ma túy, khi thực hiện tội phạm bị cáo nhận thức được việc sử dụng ma túy sẽ làm tổn hại đến sức khỏe tinh thần, thể chất của người sử dụng, là mầm mống gây ra các hành vi vi phạm pháp luật và các bệnh xã hội, bị cáo cũng biết rõ pháp luật nghiêm cấm hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo đã bất chấp tất cả để bỏ tiền ra mua ma túy về cất giấu, tàng trữ trong người để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của bản thân, cho nên cần xử phạt bị cáo tương xứng với mức độ, hành vi của bị cáo gây ra, để đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo có bà cố tên X là Người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính: Mức hình phạt của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trên cơ sở căn nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Kế Sách trong tình hình hiện nay, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải xử nghiêm bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn tại cơ sở giam giữ thì mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ các vật chứng không có giá trị sử dụng hiện còn đang bị tạm giữ gồm 01 (một) gói ni long được hàn kín bên trong có chứ a tinh thể rắn màu trắng, là ma túy, có khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,1137 gam; 08 (tám) ống thủy tinh màu trắng được quấn băng keo và 01 (một) ống thủy tinh bị vỡ thành nhiều mảnh, đã được niêm phong; 01 (một) đầu khò gas và chai gas mini, đã qua sử dụng và được niêm phong.

Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu giải quyết vấn đề gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về các vấn đề khác: Các hành vi của LQ, LC2, LC1, LC, LC4 và LC3 là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghi ̣ của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ, nên Hô ̣i đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo L (tên gọi khác K), phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói ni long được hàn kín bên trong có chứ a tinh thể rắn màu trắng, là ma túy, có khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,1137 gam, đã được niêm phong; 08 (tám) ống thủy tinh màu trắng được quấn băng keo và 01 (một) ống thủy tinh bị vỡ thành nhiều mảnh, đã được niêm phong; 01 (một) đầu khò gas và chai gas mini, đã qua sử dụng và được niêm phong.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kế Sách với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách)

3. Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu giải quyết vấn đề gì, nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo L phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo L có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông LQ (Phu ̣ng) vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ