- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Cao T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Cao T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TH NH PH H CH MINH Bản án số: 24/2023/HS-ST Ngày: 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PH H CH MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Thanh Thà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh;
2. Ông Huỳnh Văn Bé.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Cao T, sinh năm 1986, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1944, bị cáo có vợ tên Hà Thị Mộng T, sinh năm 1979 (chưa đăng ký kết hôn), có 01 người con sinh năm 2017; anh chị em ruột gồm 05 người kể cả bị cáo.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 19/02/2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” theo Bản án số 104/2008/HSST ngày 19/02/2008. Ngày 29/02/2008 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 24/4/2008 Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 419/2008/HSPT-QĐ ngày 24/4/2008 do bị cáo Th ng đã rút toàn bộ kháng cáo. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/6/2012, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị b t tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 31/8/2022 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/8/2022, Bùi Cao T gọi điện thoại cho một người tên T (chưa r lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy, T đồng ý và hẹn đến ngã tư thuộc Ấp 4, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để giao nhận tiền và ma túy. Thỏa thuận xong, T điều khiển xe g n máy biển số 59 2-518.86 đến điểm hẹn gặp Thành đưa số tiền 300.000 đồng và nhận 01 gói ma túy đem về nhà tại ấp X, xã N, huyện C cất giấu để bán lại cho người khác. Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 31/8/2022, T đang ở nhà thì nhận được điện thoại của T (chưa r lai lịch) hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy, T đồng ý bán và hẹn địa điểm giao nhận tiền và ma túy tại đường Bà Thiên khu vực ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi. Th ng cầm gói ma túy trên trong tay phải và điều khiển xe g n máy biển số 59Y2-518.86 đi đến điểm hẹn để bán ma túy cho T. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 31/8/2022, khi T đi đến trước nhà số 329 đường Bà Thiên, ấp X, xã N, huyện C thì bị lực lượng Công an kiểm tra. T liền ném 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (là ma túy của T nhằm mục đích bán cho người khác) từ trong tay phải xuống lề đường cách vị trí T khoảng 05 mét thì bị lực lượng Công an phát hiện tiến hành thu giữ lập biên bản b t người phạm tội quả tang đối với T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Theo Kết luận giám định số 5033/KL-KTHS ngày 07/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay chữ ký ghi tên Bùi Cao T và hình dấu Công an xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi (ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể r n, có khối lượng 5,2754gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 5033 (1039) có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.
- 01 xe g n máy không nhãn hiệu, biển số 59 2-518.86, không có số khung, số máy.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-CC ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Bùi Cao T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo đã có hành vi mua tàng trữ phép 01 gói nylon chứa ma túy ở thể r n, có khối lượng 5,2754gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho đối tượng tên T trước số nhà 329 đường Bà Thiên, Ấp X, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị b t quả tang. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Cao T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ ruột được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng; gia đình bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử: p dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Cao T mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với ông Nguyễn Văn Đ là chủ sỡ hữu và đang sử dụng chiếc xe g n máy biển số 59 2-518.86 hiệu amaha Exciter có số khung RLCE55P10E 258442, số máy 55P1358451 không liên quan gì đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết triệu tập ông Đ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyển lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Cao T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 31/8/2022, bị cáo hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nylon chứa ma túy ở thể r n, có khối lượng 5,2754gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho đối tượng tên T tại trước số nhà 329 đường Bà Thiên, Ấp X, xã N, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên lập biên bản b t người phạm tội quả tang. Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Cao T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Nhân thân: Ngày 19/02/2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người” theo Bản án số 104/2008/HSST ngày 19/02/2008. Ngày 29/02/2008 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 24/4/2008 Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 419/2008/HSPT-QĐ ngày 24/4/2008 do bị cáo T đã rút toàn bộ kháng cáo. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/6/2012.
Tình tiết tăng nặng: Không có
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ ruột được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba và bà nội là Bà mẹ Việt Nam anh hùng; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, xét thấy bị cáo chưa thu lợi bất chính từ việc bán ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong mang số vụ 5033 (1039) có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe g n máy không nhãn hiệu, biển số 59 2-518.86, không có số khung, số máy. Qua xác minh đây là xe g n máy bị cáo mượn của một người tên C (chưa r lai lịch) vào ngày 31/8/2022. Qua xác minh xe có biển số 59 2-518.86 là xe g n máy hiệu amaha Exciter có số khung RLCE55P10E 258442, số máy 55P1358451 do Nguyễn Văn Đ (Nơi cư trú: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng) mua và đứng tên chủ sở hữu năm 2015, hiện tại Đ đang sử dụng xe này. Do đó, xe g n máy không nhãn hiệu biển số 59 2-518.86, không có số khung, số máy đang bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Củ Chi không xác định được chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng tên T bán chất ma túy cho bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh làm r xử lý sau, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.
Đối với đối tượng tên T là người mua ma túy của bị cáo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh làm r xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí, Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Cao T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- p dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Cao T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2022.
- p dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
+ Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 5033 (1039) có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên .
+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 xe g n máy không nhãn hiệu, biển số 59Y2-518.86, không có số khung, số máy.
Các vật chứng trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số 191/PNK ngày 25/10/2022 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Bùi Cao T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Lưu: Vp, hồ sơ. | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHI N TÒA (Đã ký) Châu Thị Thanh Thà |