vanban.org

Bản án 24/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 17/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Quốc K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Quốc K 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 17/4/2023. Giao bị cáo Chu Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã Thượng Cường, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Quốc K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Quốc K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HS-ST
Ngày 17-4-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chu Thị Hậu

Ông Nguyễn Hoàng Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nông Tuyết Mai và bà Phạm Hương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Chu Quốc K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 07 tháng 10 năm 1993 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn T, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn T và con bà Chu Thị Ph; vợ: Vi Lệ Q; con: Có 01 con, sinh 2019; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/12/2022 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Trần Quỳnh Th; sinh năm 1970 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Anh Hoàng Ngọc L; sinh năm 1994; vắng mặt.

2. Anh Hoàng Ngọc Kh; sinh năm 2000; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số xx, ngõ yyy, đường Ng, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Ngọc L: Ông Hoàng Văn Kh2; sinh năm 1968; địa chỉ: Số B, đường Ng, khối C, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 21/11/2022 và Giấy ủy quyền ngày 14/02/2023); vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Văn S ; sinh năm 1980; địa chỉ: Số 00/00, khu Th, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

2. Chị Phùng Thị Y; sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/8/2022, Chu Quốc K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ELANTRA, màu sơn trắng biển kiểm soát 12A-10xxx, trên xe có Hoàng Văn T, sinh năm 1985, cùng trú tại: Thôn T, xã Th, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đi trên Quốc lộ 1A, hướng Hữu Nghị - Hà Nội, khi đi đến Km 24 + 700 thuộc thôn Nà Thà, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, do thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe ô tô đi với tốc độ không phù hợp, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe đi liền phía trước nên xe do Chu Quốc K điều khiển đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 12P1-09xxx do bà Trần Quỳnh Th, sinh năm 1970, thường trú: Số xx, ngõ yyy, đường Ng, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn điều khiển đi phía trước cùng chiều, đang bật tín hiệu và rẽ trái. Hậu quả, xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx và xe mô tô biển kiểm soát 12P1-09xxx bị hư hỏng nhẹ; bà Trần Quỳnh Th ngã bị thương, được đưa đến Bệnh viện cấp cứu nhưng đến ngày 26/8/2022 đã tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số: 79/2022/GĐHS ngày 20/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận nguyên nhân tử vong của bà Trần Quỳnh Th: Tình trạng đa chấn thương, chấn thương sọ não kín không đáp ứng điều trị hậu quả của tai nạn giao thông.

Khám nghiệm hiện trƣờng:

Hiện trường là đoạn đường trải bê tông nhựa thẳng, phẳng, mặt đường nhựa rộng 10,65m; giữa đường có vạch kẻ sơn màu vàng dạng vạch đơn, đứt nét phân chia hai chiều xe chạy ngược chiều nhau; hai bên có vạch kẻ sơn màu trắng dạng vạch đơn, liền nét phân biệt làn xe dành cho xe thô sơ và người đi bộ, làn bên phải (hướng Hữu Nghị - Hà Nội) rộng 1,85m, làn bên trái rộng 1,80m.

Vị trí các phương tiện được đánh dấu như sau: Số 01 là vị trí vết trượt lốp, số 02 là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx, số 03 là vị trí vùng mảnh nhựa vỡ, số 04 là vị trí vết cày trượt, số 05 là vị trí xe mô tô biển kiểm soát 12P1-09xxx. Lấy mép đường chuẩn là mép đường nhựa bên phải hướng Hữu Nghị - Hà Nội. Mốc chuẩn là cột km 24 + 700 Quốc lộ 1A nằm trên mép đường bên trái hướng Hữu Nghị - Hà Nội, cách đầu vết số 01 là 6,70m.

Khi tiến hành dựng lại hiện trường thì các dấu vết không còn tồn tại và được dựng lại trên hiện trường cụ thể như sau:

- Số 01 là vị trí vết trượt lốp dài 10,10m, điểm đầu cách mép đường chuẩn 5,30m, cách tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx là 10,10m; điểm cuối vết nằm dưới bánh lốp trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx, cách mép đường chuẩn 8,20m.

- Số 02 là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx, đầu xe hướng Hà Nội, đuôi xe hướng Hữu Nghị; tâm trục bánh trước phải cách mép đường chuẩn 8,20m, cách tâm vùng mảnh vỡ số 03 là 2,0m; tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 7,5m; tâm trục bánh sau bên trái cách mép chuẩn 4,80m.

- Số 03 là vị trí vùng mảnh nhựa vỡ, tâm vùng cách mép đường chuẩn 6,70m, cách đầu vết số 04 là 2,40m.

- Số 04 là vị trí vết cày trượt dày 5,80m, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 5,40m, điểm cuối vết nằm dưới chân phanh xe mô tô biển kiểm soát 12P1-09xxx và cách mép đường chuẩn 5,50m.

- Số 05 là vị trí xe mô tô biển kiểm soát 12P1-09xxx nằm đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng Hữu Nghị, đuôi xe hướng Hà Nội; tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 5,40m; cách tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx là 5,50m; tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 5,60m.

Khoảng cách giữa xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx đến xe mô tô biển kiểm soát 12P1-09xxx, khi Chu Quốc K nhìn thấy xe mô tô biển kiểm soát 12P1-09xxx phía trước xác định là 60,5m.

Khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông:

* Xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ELANTRA, màu sơn trắng, số máy GYNAU 700576, số khung YFBJN 013496, treo biển kiểm soát 12A-10xxx.

- Vết nứt vỡ diện 60cm x 60cm tại phần kính chắn gió phía trước bên phải, diện vết nút vỡ tập trung tại vị trí tiếp giáp khung kim loại bảo vệ kính chắn gió phía trước bên phải. Mặt trên khung kim loại bảo vệ kính chắn gió phía trước bên phải, tại vị trí tiếp giáp vết nứt vỡ kính có dấu vết bẹp lõm diện 10cm x 04cm, hướng vết lõm từ trên xuống dưới. Cả hai vết đều có vị trí tâm cách nền dường 115cm, cách mép trên khung kính 49cm.

- Vết mài xước mất sơn, lộ lớp kim loại diện 12cm x 05cm tại mặt trên đầu nắp ca pô bên phải, hướng vết từ trước về sau, từ trái sang phải, đầu trên vết cách nền đường 78cm, đầu dưới cách nền đường 74cm.

- Vết nứt vỡ diện 62cm x 13cm tại phần ốp cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu bên phải, mặt ngoài phía trước ốp đèn có dấu vết trượt xước, bám dính chất dạng nhẹ màu đen diện 29cm x 05cm, tâm vết cách nền đường 72cm.

- Phần cản xe phía trước, bên phải bị bật khỏi vị trí ban đầu, mặt ngoài có dấu vết rách, nứt, mài xước mất sơn màu trắng, bám dính chất dạng sơn màu đen tổng diện 60cm x 50cm, cụm đèn gầm phía trước bên phải bị vỡ, bật khỏi vị trí ban đầu.

- Tấm ốp chắn bùn khu vực bánh xe phía trước bên phải bị bật khỏi vị trí ban đầu.

- Vết mài xước diện 2,5cm x 0,5cm tại mặt ngoài la zăng bánh xe phía trước bên phải cách tâm trục bánh xe 20cm.

* Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn trắng, số máy JA39E-0594035, số khung RLHJA390XHY618882, treo biển kiểm soát 12P1-09xxx.

- Vết mài xước mất sơn, bám dính tạp chất màu nâu và nứt vỡ ốp nhựa đèn tín hiệu bên phải, đèn chiếu sáng diện 20cm x 05 cm, chiều hướng vết từ trước về sau, từ trái sang phải.

- Vết mài trượt lộ ánh kim diện 02cm x 01cm tại đầu tay ga bên phải.

- Vết mài trượt lộ ánh kim diện 02cm x 01cm tại đầu tay phanh bên phải.

- Vết mài trượt xước sơn màu trắng diện 05cm x 05cm tại đầu ốp chắn bùn phía trước chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải.

- Đầu chân phanh phải có vết mài trượt diện 05cm x 03cm đã bị han gỉ màu nâu.

- Đầu giá để chân phía trước bên phải có vết mài trượt diện 01cm x 01cm đã bị han gỉ màu nâu, phần để chân bị cong dồn từ trước về sau.

- Mặt ngoài ốp ống xả có vết mài trượt đã han gỉ màu nâu diện 40cm x 10cm.

- Phần cánh yếm bên trái bị bung bật khỏi vị trí ban đầu; mặt ngoài cánh yếm có vết mài xước diện 15cm x 05cm, điểm cao nhất của vết cách nền đường 69cm, điểm thấp nhất cách nền đường 43cm.

- Giá để chân phía trước bên trái và cần số bị cong dồn từ trước về sau.

- Cạnh ngoài phía dưới móc treo đồ phía trước bên trái dính chất dạng sơn màu trắng, chân giá móc treo bị cong dồn từ dưới lên trên, vết cách nền đường 67,5cm.

- Vết trượt xước, bám dính chất dạng sơn màu trắng diện 20cm x 10cm tại ốp nhựa bảo vệ thân máy bên trái chiều hướng từ sau về trước, tại ốc hộp xích bên trái bám dính chất dạng sơn màu trắng, điểm thấp nhất của vết cách nền đường 27cm, điểm cao nhất cách nền đường 37cm.

- Vết mài trượt mất nhựa màu đen rách vỏ bọc tại cạnh ngoài mép dưới bên trái yên xe diện 30cm x 3,5cm.

Kết quả trƣng cầu giám định, định giá tài sản:

- Tại Kết luận số 122 ngày 13/12/2022 của Công ty Cổ phần Đăng kiểm xe cơ giới Lạng Sơn kết luận tại thời điểm kiểm tra xe ô tô HYUNDAI ELANTRA biển kiểm soát 12A-10xxx, xe mô tô HONDA WAVE, gắn biển kiểm soát 12P1-09xxx: “Các hệ thống an toàn đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

- Tại Kết luận định giá tài sản số 3497/KL-HDĐGTS ngày 23/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn, kết luận:

“+ Xe ô tô HYUNDAI ELANTRA, biển kiểm soát 12A-10xxx bị thiệt hại trị giá 24.940.000 đồng (hai mươi tư triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

+ Xe mô tô HONDA WAVE, gắn biển kiểm soát 12P1-09xxx bị thiệt hại trị giá ở 253.000 đồng (hai trăm năm mươi ba nghìn đồng)”.

- Tại Kết luận giám định số 222/KL-KTHS ngày 31/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Xe mô tô HONDA, màu sơn trắng, gắn biển kiểm soát 12P1-09xxx, có số khung RLHJA390XHY618882, số máy JA39E-0594035, là số nguyên thủy, qua giám định không phát hiện dấu vết cắt hàn, tẩy xóa, đóng lại”.

Tại Cơ quan điều tra, Chu Quốc K khai nhận nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông là do Chu Quốc K thiếu quan sát, điều khiển xe với tốc độ không phù hợp, không giữ đúng khoảng cách giữa xe đi sau với xe đi trước nên khi phát hiện bà Trần Quỳnh Th cho xe chuyển hướng rẽ trái Chu Quốc K đã không làm chủ được tay lái, hậu quả đâm vào bà Trần Quỳnh Th dẫn đến tử vong.

Các nội dung có liên quan trong vụ án:

Đối với xe ô tô HYUNDAI ELANTRA, màu trắng biển kiểm soát 12A-10xxx do Chu Quốc K điều khiển gây tai nạn, qua xác minh chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn S , sinh năm 1980, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số xx, thôn Th, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chu Quốc K mượn xe ông Nguyễn Văn S đi gây tai nạn và hư hỏng nhưng ông Nguyễn Văn S không yêu cầu Chu Quốc K bồi thường về mặt dân sự. Ngày 13/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã trả chiếc xe ô tô trên cho ông Nguyễn Văn S.

Đối với xe mô tô HONDA, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-09xxx do bà Trần Quỳnh Th điều khiển qua xác minh xe bà Trần Quỳnh Th đeo biển kiểm soát của xe mô tô thuộc chủ sở hữu của chị Đặng Thị Hải Y, cư trú tại: Khu tập thể Nhà máy xi măng xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Hiện chị Đặng Thị Hải Y đã chuyển nơi ở khác, không biết đang ở đâu nên không có thông tin để xác minh, trao trả.

Nhưng thực tế xe mô tô HONDA, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-09xxx do bà Trần Quỳnh Th điều khiển qua tra cứu số khung, số máy và biển kiểm soát là 12X1-16xxx đăng ký tại Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn thuộc chủ sở hữu của chị Phùng Thị Y, sinh năm 2000, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng tháng 02/2019, chị Phùng Thị Y giao xe cho anh trai là Phùng Văn H, sinh năm 1998, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn N, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn quản lý sử dụng. Tháng 9/2019, anh Phùng Văn H cho người bạn mới quen tên Tuấn A, không rõ họ, tuổi, địa chỉ mượn nhưng chưa trả. Xác minh thấy chiếc xe trên không nằm trong diện truy tìm, ngày 08/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả xe mô tô trên cho anh Phùng Văn H (người được chị Phùng Thị Y ủy quyền nhận lại xe), anh Phùng Văn H không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông trên bị cáo Chu Quốc K đã phối hợp với gia đình bị hại đưa bà Trần Quỳnh Th vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn và Bệnh viện Việt Đức - Hà Nội cấp cứu, hỗ trợ các khoản tiền viện phí, mai táng... và bồi thường 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có Đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Chu Quốc K.

Tại Bản cáo trạng số: 25/CT-VKSLS-P2 ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Chu Quốc K về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận diễn biến hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu đúng, đầy đủ hành vi phạm tội và không có ý kiến khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn S trình bày ông đã nhận lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12A-10xxx và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Chị Phùng Thị Y có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày đã nhận lại chiếc xe mô tô HONDA, chị không có yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Chu Quốc K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Xử phạt bị cáo Chu Quốc K từ 24 (hai mươi tư) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô có chữ, số: 12P1-09xxx; trả lại cho bị cáo Chu Quốc K 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô số: 270143017xxx, hạng C, mang tên Chu Quốc K.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, nay không yêu cầu bồi thường thêm khoản gì, nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng không có yêu cầu bị cáo bồi thường, đề nghị không xem xét giải quyết.

Đối với chiếc xe ô tô HUYNDAI ELANTRA, màu trắng biển kiểm soát 12A-10xxx do Chu Quốc K điều khiển gây tai nạn, chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn S , ngày 13/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã trả chiếc xe ô tô trên cho ông Nguyễn Văn S , đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận trong bản án.

Đối với chiếc xe mô tô HONDA, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-09xxx do bà Trần Quỳnh Th điều khiển qua tra cứu số khung, số máy và biển kiểm soát là 12X1-16xxx đăng ký tại Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn thuộc chủ sở hữu của chị Phùng Thị Y, ngày 08/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã trả xe mô tô trên cho anh Phùng Văn H (người được chị Phùng Thị Y ủy quyền nhận lại xe), đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận trong bản án.

Về án phí: Bị cáo Chu Quốc K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Chu Quốc K tranh luận: Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo tù giam là quá nặng, vì bị cáo đã bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại, bản thân bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải về hành vi của mình.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Vẫn giữ nguyên quan điểm, việc đề nghị xử phạt bị cáo tù giam là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn S không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Chu Quốc K hối hận về hành vi của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo, vì hoàn cảnh bị cáo khó khăn, con còn nhỏ lại bị bệnh tự kỷ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Ông Hoàng Văn Kh2 là người đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Ngọc L là người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và anh Hoàng Ngọc Kh là người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt; chị Phùng Thị Y là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử thấy việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, do vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám nghiệm hiện trường liên quan đến vụ tai nạn giao thông, Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có căn cứ xác định: Khoảng 09 giờ 30 ngày 24/8/2022, tại Km 24 + 700, Quốc lộ 1A, thuộc thôn Nà Thà, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Chu Quốc K có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12A - 01xxx đi hướng Hữu Nghị - Hà Nội, do thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe ô tô đi với tốc độ không phù hợp, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe đi liền trước nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 12P1 - 09xxx do bà Trần Quỳnh Th, sinh năm: 1970, trú tại: Số xx, ngõ yyy, đường Ng, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn điều khiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả bà Trần Quỳnh Th bị thương, được đưa đi Bệnh viện cấp cứu, đến ngày 26/8/2022 thì tử vong, hai xe bị hư hỏng. Với hành vi trên của bị cáo Chu Quốc K đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Chu Quốc K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo Chu Quốc K gây ra đã xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông công cộng, hậu quả đã gây thiệt hại tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Xác định lỗi trong vụ tai nạn là do bị cáo Chu Quốc K điều khiển xe ô tô không chấp hành quy định về tham gia giao thông đường bộ, không tuân thủ luật giao thông đường bộ, nên đã gây ra vụ tai nạn.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chu Quốc K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Chu Quốc K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi vụ tai nạn xảy ra bị cáo đã kịp thời thăm hỏi, tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ông ngoại của bị cáo là ông Chu Viết Nhằm (mẹ đẻ bị cáo lấy rể nuôi dưỡng ông bà ngoại) được tặng Huy chương "Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng", Huy chương "Bảo vệ an ninh tổ quốc", Huy chương "Vì thế hệ trẻ", Huy chương "Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn", Huy chương "Cựu chiến binh Việt Nam", Huy chương "Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ", nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Chu Quốc K chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, xác định bị cáo có nhân thân tốt.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Chu Quốc K không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên việc cách ly bị cáo Chu Quốc K ra ngoài xã hội là không cần thiết mà để bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để bị cáo tu duỡng, rèn luyện bản thân, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội, biết tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Chu Quốc K vì không cần thiết.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ngày 10/01/2023 bị cáo Chu Quốc K đã bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Trần Quỳnh Th, tổng số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ và không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại thêm, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô có chữ, số: 12P1-09xxx chủ sở hữu là chị Đặng Thị Hải Y, cư trú tại: Khu tập thể Nhà máy xi măng xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Hiện chị Đặng Thị Hải Y đã chuyển nơi ở khác, không biết đang ở đâu nên không có thông tin để xác minh, trao trả. Hội đồng xét xử thấy biển kiểm soát này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô số: 270143017xxx, hạng C, mang tên Chu Quốc K, là giấy tờ của bị cáo cần trả lại cho bị cáo Chu Quốc K, vì không thuộc trường hợp phải thu giữ.

Đối với xe ô tô HYUNDAI ELANTRA, màu trắng biển kiểm soát 12A-10xxx do bị cáo Chu Quốc K điều khiển gây tai nạn, qua xác minh chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn S , sinh năm 1980, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số xx, thôn Th, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chỗ ở hiện nay: Số 00/00, khu Th, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo Chu Quốc K mượn xe ông Nguyễn Văn S đi gây tai nạn và hư hỏng, nhưng ông Nguyễn Văn S không yêu cầu bị cáo Chu Quốc K bồi thường thiệt hại. Ngày 13/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã trả chiếc xe ô tô trên cho ông Nguyễn Văn S , nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với xe mô tô HONDA, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-09xxx do bà Trần Quỳnh Th điều khiển qua xác minh xe bà Trần Quỳnh Th mang biển kiểm soát của xe mô tô thuộc chủ sở hữu của chị Đặng Thị Hải Y, cư trú tại: Khu tập thể Nhà máy xi măng xã M, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Nhưng thực tế xe mô tô HONDA, màu trắng, biển kiểm soát 12P1-09xxx do bà Trần Quỳnh Th điều khiển qua tra cứu số khung, số máy và biển kiểm soát là 12X1-16xxx đăng ký tại Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn thuộc chủ sở hữu của chị Phùng Thị Y, sinh năm 2000, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 08/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả xe mô tô trên cho anh Phùng Văn H (người được chị Phùng Thị Y ủy quyền nhận lại xe), chị Phùng Thị Y có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường về mặt dân sự, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí: Bị cáo Chu Quốc K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hình phạt tù giam là quá nghiêm khắc vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử xét thấy cho bị cáo cải tạo tại địa phương là phù hợp để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 292 và các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Quốc K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chu Quốc K 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 17/4/2023. Giao bị cáo Chu Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã Thượng Cường, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô có chữ, số: 12P1-09xxx.

- Trả lại cho bị cáo Chu Quốc K 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô số: 270143017xxx, hạng C, mang tên Chu Quốc K.

(Vật chứng trên được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Bị cáo Chu Quốc K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ