- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Mỹ D - Nguyễn Văn D1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày 28 – 4 – 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Huy Sơn.
2. Bà Trần Thị Mỹ Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Diển – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thân Mến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm 1985, cư trú: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983, cư trú: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ D trình bày:
Vào năm 2016, bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Nguyễn Văn D1 có đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 25-4-2019. Quá trình chung sống, bà D và ông D1 có với nhau 01 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Lan P, sinh ngày 15-10-2017. Hiện tại cháu P đang sống chung với mẹ tại ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bà D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau như vợ chồng được nữa và hiện tại mỗi người đã ở một nơi, có cuộc sống riêng.
Vì vậy, bà Huỳnh Thị Mỹ D yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn D1;
- Về con chung: Yêu cầu giao con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Lan P, sinh ngày 15-10-2017 cho bà Huỳnh Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Nguyễn Văn D1 phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn: Các bên tự thỏa thuận, bà D không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Ý kiến của các bị đơn ông Nguyễn Văn D1:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, phía bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho nguyên đơn và bị đơn được ly hôn, giao con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Lan P cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ D yêu cầu được ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn D1, đang cư trú tại ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; yêu cầu giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng và bị đơn không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng sau khi ly hôn, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật giải quyết về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn D1.
[3] Về quan hệ hôn nhân, nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ D và bị đơn Nguyễn Văn D1 đã tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 25-4-2019 nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông D1 là hôn nhân hợp pháp.
[4] Về căn cứ ly hôn: Theo nguyên đơn trình bày, do cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn với nhau, đã hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Từ khi có đơn khởi kiện đến nay, mặc dù chưa có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho ly hôn nhưng trên thực tế bà D và ông D1 đã ly thân; mỗi người đã ở một nơi và đều ổn định cuộc sống riêng của mình. Điều này cho thấy tình nghĩa vợ chồng đã không còn do họ không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình kể từ thời điểm ly thân. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay một bên khởi kiện yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử giải quyết cho họ được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Bà D và ông D1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Lan P, sinh ngày 15-10-2017, hiện đang sống chung với bà D tại ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm thì ông Nguyễn Văn D1 đều vắng mặt. Kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã được Tòa án thông báo hợp lệ cho ông D1 nhưng ông không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, không phản đối hay có yêu cầu gì khác đối với việc bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. HĐXX xét thấy, cháu Nguyễn Huỳnh Lan P là bé gái, đang sinh sống, học tập và phát triển bình thường nên cần giao cháu P cho mẹ là bà Huỳnh Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên sau khi cha mẹ ly hôn, đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 81và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Nguyễn Văn D1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[6] Về cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn: Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu nên HĐXX ghi nhận và không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[7] Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng khi ly hôn: Các bên tự thỏa thuận, không ai có yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8] Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.
[9] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ D.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Nguyễn Văn D1 được ly hôn.
- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Lan P, sinh ngày 15-10-2017 cho bà Huỳnh Thị Mỹ D trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Văn D1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ D về việc không yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn D1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng khi ly hôn: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007317 ngày 06-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Ngã Năm; - UBND xã Tân Long, thị xã Ngã Năm; - Chi cục THADS thị xã Ngã Năm; - Phòng KTNV-THA TAND tỉnh Sóc Trăng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Lâm |