- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị M, sinh năm 1984 được ly hôn với ông Bùi Minh P, sinh năm 1979.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14-4-2023. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Khel
2. Ông Phạm Hữu Thắng
Thư ký phiên tòa: Bà Văn Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình số: 295/2022/TLST-HNGĐ ngày 26/12/2022 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1984 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Bùi Minh P, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: đường B, khóm 2, phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 12 năm 2022 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị M và ông Bùi Minh P tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 791/2006, ngày 10/5/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2008 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến, ông P thường xuyên nhậu. Từ cuối tháng 02 năm 2008 đến nay, bà M và ông P không còn sống chung như vợ chồng.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Lê Thị M yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Bùi Minh P.
Về con chung: Không có, không yêu cầu.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn là ông Bùi Minh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Đối với bị đơn là ông Bùi Minh P đã không chấp hành việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận địn
. Về sự vắng mặt của bị đơn ông Bùi Minh P, xét thấy: Bị đơn ông P đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng là quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà theo trình tự thủ tục tố tụng, nhưng ông P vẫn không có mặt tại phiên toà. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn với ông Bùi Minh P, thấy rằng: Bà Lê Thị M và ông Bùi Minh P tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 791/2006, ngày 10/5/2006. Nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông P là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông P thường xuyên nhậu, không chăm lo cho gia đình dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ tháng 02/2018 đến nay bà M và ông P không còn sống chung như vợ chồng. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập ông P đến làm việc và hòa giải nhưng ông P không đến cũng như không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ ông P không thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy, những mâu thuẫn trên thể hiện được tình trạng hôn nhân của bà M và ông P đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được; hiện nay ông bà không còn sống chung với nhau như vợ chồng, thể hiện được cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M.
Về con chung: Theo bà M trình bày trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông P không có con chung, con nuôi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà M trình bày trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông P không có tạo lập tài sản chung cũng như không có nợ chung, cho nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ: Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326//UBTVQH14 ngày 30/12/016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị M, sinh năm 1984 được ly hôn với ông Bùi Minh P, sinh năm 1979.
2. Về con chung: Không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị M phải chịu là 300.000 đồng; Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000893 ngày 09/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, bà M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSNDTP Sóc Trăng; - Chi cục THADS TP Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND phường 3, TPST; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Phước Tài |