- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Th đối với Ông Phan Anh K về việc "tranh chấp ly hôn".
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26-7-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Đức Thành;
Bà Trương Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2023/TLST-HNGĐ ngày 14/4/2023 về việc "tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXX-ST ngày 30 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Th, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: tổ 2, khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh B, tạm trú: số 152, đường B, khu phố 5, phường C, thành phố T, tỉnh B; có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phan Anh K, sinh năm 1992, quốc tịch: Hoa Kỳ; địa chỉ: 441 East Cheltenham Ave, Philadelpha, Pa 19120, Hoa Kỳ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/4/2023, nguyên đơn Bà Lê Th trình bày:
Bà Th và Ông Phan Anh K tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014, quyển số 01/2013 ngày 04/11/2014. Sau khi kết hôn, Bà Th và Ông Phan Anh K chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì Ông Phan Anh K quay trở lại Hoa Kỳ sinh sống. Từ năm 2014 cho đến nay, Bà Th cố gắng liên lạc với Ông Phan Anh K nhưng không được, do vậy tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt, không còn yêu thương nhau. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, Bà Th có đơn khởi kiện ly hôn Ông Phan Anh K.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung thì giữa Bà Th và Ông Phan Anh K không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho Ông Phan Anh K các văn bản như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 05/4/2023 của Bà Lê Th; Thông báo thụ lý vụ án số 09/TB-TLVA, ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Việt Nam; Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014, quyển số 01/2013 ngày 04/11/2014 của Ủy ban nhân nhân tỉnh B, Việt Nam và Công văn số:13/TA-HNGĐ, ngày 18/04/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, Ông Phan Anh K vẫn không có ý kiến gửi Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hôn nhân giữa Bà Th và Ông Phan Anh K là hợp pháp. Sau khi kết hôn, Bà Th và Ông Phan Anh K chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì Ông Phan Anh K quay trở lại Hoa Kỳ sinh sống. Từ năm 2014 cho đến nay, Bà Th cố gắng liên lạc với Ông Phan Anh K nhưng không được, do vậy tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt, không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy yêu cầu khởi kiện ly hôn của Bà Th là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Bà Th.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Th và Ông Phan Anh K đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014, quyển số 01/2013 ngày 04/11/2014. Bà Th hiện đang cư trú tại số 152, đường B, khu phố 5, phường C, thành phố T, tỉnh B. Ông Phan Anh K đang sống và làm việc tại số 441 East Cheltenham Ave, Philadelpha, Pa 19120, Hoa Kỳ. Do đó, theo quy định tại các Điều: 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình và các Điều: 28, 37, 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Về sự có mặt của các đương sự: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thực hiện thủ tục Ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho Ông Phan Anh K các văn bản như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 05/4/2023 của Bà Lê Th; Thông báo thụ lý vụ án số 09/TB-TLVA, ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Việt Nam; Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014, quyển số 01/2013 ngày 04/11/2014 của Ủy ban nhân nhân tỉnh B, Việt Nam và Công văn số: 13/TA-HNGĐ, ngày 18/04/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng Ông Phan Anh K vẫn vắng mặt. Bà Lê Th có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều: 227, 228, 238, 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bà Th và Ông Phan Anh K tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014, quyển số 01/2013 ngày 04/11/2014. Sau khi kết hôn, Bà Th và Ông Phan Anh K chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì Ông Phan Anh K quay trở lại Hoa Kỳ sinh sống. Từ năm 2014 cho đến nay, Bà Th cố gắng liên lạc với Ông Phan Anh K nhưng không được, do vậy tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt, không còn yêu thương nhau. Bà Th xác định không còn tình cảm với Ông Phan Anh K và có đơn khởi kiện ly hôn Ông Phan Anh K. Về phía Ông Phan Anh K, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho Ông Phan Anh K các văn bản như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 05/4/2023 của Bà Lê Th; Thông báo thụ lý vụ án số 09/TB-TLVA, ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, Việt Nam; Giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014, quyển số 01/2013 ngày 04/11/2014 của Ủy ban nhân nhân tỉnh B, Việt Nam và Công văn số: 13/TA-HNGĐ, ngày 18/04/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã gửi các văn bản nêu trên qua dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế cho Ông Phan Anh K và Ông Phan Anh K đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng Ông Phan Anh K vẫn không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của Bà Th. Xét, yêu cầu ly hôn của Bà Th thấy rằng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…” mục đích hôn nhân giữa Bà Th và Ông Phan Anh K không đạt được, vì quyền lợi chung của hai bên nên cần phải chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Th và Ông Phan Anh K, phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Th không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp pháp luật.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chi phí, lệ phí ủy thác tư pháp và chi phí dịch thuật: Bà Lê Th phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều: 19, 51, 56, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ các Điều: 28, 37, 40, 147, 153, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 477, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Th đối với Ông Phan Anh K về việc "tranh chấp ly hôn".
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Th được ly hôn Ông Phan Anh K.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Th không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Th phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000429, ngày 14/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
Bà Lê Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Phan Anh K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Võ Đức Thành Trƣơng Thị Thu Hà | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣu Thị Mỹ Hƣơng |