- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thu H và Nguyễn Văn S"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-3-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THNH PHỐ CẦN THƠ
THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiến
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thanh Tùng
2/ Bà Nguyễn Thanh Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận C, tHnh phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, tHnh phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, tHnh phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 06/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐ-ST ngày 20 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1976 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Số 50, khu vực T, phường T, quận C, tHnh phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 33, tổ 43, khu vực 3, phường Hưng Phú, quận C, tHnh phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: Số 50, khu vực T, phường T, quận C, tHnh phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/9/2022 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Võ Thị Thu H trình bày:
Qua tìm hiểu bà Võ Thị Thu H và ông Nguyễn Văn S tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Châu THnh, tỉnh Cần Thơ (nay là phường T, quận C, tHnh phố Cần Thơ) vào ngày 17/01/1995. Vợ chồng sống hạnh phúc được gần 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải, ông S thường xuyên nhậu nhẹt không lo cho gia đình và nhiều lần có Hnh vi Hnh hung bà H. Cả hai đã cố Hn gắn tình cảm nhưng không tHnh. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Vì vậy, bà H làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận C, tHnh phố Cần Thơ giải quyết cho bà H vấn đề sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
+ Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị L(Nữ), sinh ngày 25/5/1995, cháu Lan đã trưởng tHnh, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Và con tên Nguyễn Hoàng A (nam), sinh ngày 30/3/2006. Cháu A hiện tại đang sống với bà H. Sau khi ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con đến trưởng tHnh. Không yêu cầu ông S cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Văn S: Được Tòa án triệu hợp lệ 02 lần nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Vụ án được hòa giải không tHnh. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn tiếp tục vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt các lần hòa giải và xét xử, Tòa án đã tiến Hnh tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án tiến Hnh xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông S đã thật sự nghiêm trọng, đời sống hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Bà H và ông S tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Châu THnh, tỉnh Cần Thơ (nay là phường T, quận C, tHnh phố Cần Thơ) vào ngày 17/01/1995 nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, bà H và ông S phát sinh mâu thuẫn, bà H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại quận C cho nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị Thu H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn – ông Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử quyết định tiến Hnh xét xử vụ án (vắng mặt nguyên đơn và bị đơn) theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét quan hệ hôn nhân: Bà H và ông S chung sống năm 1995 và có đăng ký kết hôn vào ngày 17/01/1995 tại Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Châu THnh, tỉnh Cần Thơ (nay là phường T, quận C, tHnh phố Cần Thơ). Bà H và ông S sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên tòa hôm nay ông S tiếp tục vắng mặt mặc dù ông S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt cho nên được xem là từ bỏ quyền tranh tụng của mình. Hội đồng xét xử sẽ giải quyết vụ án dựa trên trình bày của bà H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo bà H, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải, ông S thường xuyên nhậu nhẹt không lo cho gia đình, nhiều lần có Hnh vi Hnh hung bà H cho nên bà H khởi kiện xin ly hôn.
Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bà H xác nhận bà và ông S chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng mặc dù vợ chồng có cố gắn Hn gắn tình cảm nhưng không cải thiện. Do đó, bà H và ông S đã ly thân với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay.
Mặt khác, ông S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, Hn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà H và ông S đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà H khai có 02 con chung tên Nguyễn Thị L(Nữ), sinh ngày 25/5/1995, cháu Lan đã trưởng tHnh, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Và con tên Nguyễn Hoàng A (nam), sinh ngày 30/3/2006. Cháu A hiện tại đang sống với bà H. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu A đến khi trưởng tHnh. Không yêu cầu ông S cấp dưỡng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Tại bản tự khai ngày 03/02/2023 thì cháu A có nguyện vọng sống với mẹ (bút lục 38). Ngoài ra, hiện tại cháu A đang sống chung với bà H. Bà H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu A đến khi trưởng tHnh. Nhằm tạo điều kiện về mặt vật chất và tinh thần cho cháu A tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Vì vậy, việc giao cháu A cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp quy định pháp luật và cũng đảm bảo cuộc sống cho cháu A. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông S theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết tHnh vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị Thu H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu H về việc ly hôn với ông Nguyễn Văn S.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Văn S
2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị L(Nữ), sinh ngày 25/5/1995, cháu Lan đã trưởng tHnh, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Và con tên Nguyễn Hoàng A (nam), sinh ngày 30/3/2006. Giao cháu A cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng tHnh. Ghi nhận bà H không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông S theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết tHnh vụ kiện khác.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0008859 ngày 10/01/2023 của Chi cục thi Hnh án dân sự, quận C tHnh án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm phải chịu. Bà H đã nộp xong án phí.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND QCR; - Chi cục THADS quận C; - TAND TP.CT; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Trung Hiến |