vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị D đƣợc ly hôn anh Vũ Văn Q Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị D - Vũ Văn Q - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2023
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoan và ông Chu Quang Liêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ

Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia

phiên toà: Bà Vũ Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải

Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 245/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 và thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 15/11/2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, xác định cha cho con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 19A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023,quyếtđịnhhoãnphiêntòa, giữacácđƣơngsự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: thôn Vũ X,

xã Quang K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nơi ở hiện nay: thôn La T, xã Tân H, huyện Ninh G, tỉnh Hải Dƣơng.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: đội 7,

thôn Vũ X, xã Quang K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Đào Văn T, sinh năm 1993;

Địa chỉ: thôn La T, xã Tân H, huyện Ninh G, tỉnh Hải Dƣơng.

(Tại phiên tòa có mặt anh Quang. Chị Dung và anh Thuận có đơn xin xét xử

vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ,

nguyên đơn chị Vũ Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn Q đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện

kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang Khải, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng vào ngày 17/9/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại thôn Vũ Xá, xã Quang Khải cùng bố mẹ anh Quang hạnh phúc đƣợc khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh Quang có quan hệ không lành mạnh với ngƣời phụ nữ khác, ngƣời phụ nữ anh Quang quen còn gọi điện đe dọa chị vì chị có ý kiến về mối quan hệ này. Chị cũng đã nói chuyện với anh Quang thì anh Quang có thừa nhận về việc có quan hệ với ngƣời phụ nữ khác và không muốn từ bỏ, chị đã nói chuyện với bố mẹ anh Quang thì bố mẹ anh Quang có nói để từ từ nói chuyện với anh Quang nhƣng anh Quang không có sự thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị đã nhiều lần đề nghị anh Quang ly hôn cũng nhƣ có lần anh Quang bảo chị ly hôn nhƣng đến khi chị làm đơn ly hôn thì anh Quang lại không ký đơn. Năm 2018 anh Quang đi nƣớc ngoài, thời gian đầu vợ chồng thỉnh thoảng vẫn gọi điện nói chuyện, tuy nhiên mỗi lần nói chuyện anh Quang thƣờng xuyên chửi bới chị nên dần dần chị và anh Quang không nói chuyện với nhau nữa đồng thời cắt đứt liên lạc, không ai hỏi thăm, quan tâm đến ai. Cũng trong thời gian anh Quang ở nƣớc ngoài, chị vẫn chung sống cùng bố mẹ anh Quang nhƣng khi chị đặt vấn đề muốn về bên ngoại ở một thời gian thì bố mẹ anh Quang mắng chị, vất quần áo của tôi ra ngoài đƣờng. Do không bằng lòng với việc làm và cách đối xử của bố mẹ anh Quang nên đầu năm 2020 tôi chuyển ra ngoài sinh sống, thời gian tôi ra ngoài sống anh Quang không quan tâm, hỏi han tôi cũng nhƣ không đến tìm gặp tôi để nói chuyện. Khoảng tháng 8/2022 anh Quang về nƣớc và có cùng các con đến chỗ tôi ở để tìm tôi, khi gặp tôi anh Quang không nói gì mà có hành vi đánh tôi sau đó bỏ về, từ đó đến nay anh Quang không tìm gặp tôi lần nào nữa. Đến nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa tôi và anh Quang không còn nên có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giải quyết cho tôi đƣợc ly hôn anh Quang.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị và anh Quang có 02 con chung

là Vũ Thị H, sinh ngày 14/02/2013 và Vũ Trà M, sinh ngày 21/02/2015, hiện các cháu đang ở cùng anh Quang và ông bà nội. Khi ly hôn chị đồng ý để anh Quang nuôi dƣỡng cả hai con chung và chị có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con hàng tháng cho anh Quang với mức cấp dƣỡng 01 triệu đồng/ 01 con/ tháng.

Trong thời gian chị bỏ ra ngoài sinh sống có gặp và quen anh Đào Văn T,

sinh năm 1993; địa chỉ: thôn La Tiến, xã Tân Hƣơng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Do lúc này chị xác định chị và anh Quang không còn tình cảm nữa, nên chị có quan hệ tình cảm với anh Thuận và có 01 con riêng với anh Thuận là cháu Vũ Gia Bảo, sinh ngày 04/01/2021. Tuy nhiên khi đi làm giấy khai sinh cho cháu thì do đang trong thời kỳ hôn nhân với anh Quang nên UBND xã Quang Khải đã làm giấy khai sinh cho cháu với tên bố là anh Vũ Văn Q. Đến nay chị xác định cháu Vũ Gia Bảo không phải con chung của chị và anh Quang mà là con của tôi và anh Thuận nên chị đề nghị Tòa án xác định cháu Vũ Gia Bảo là con của chị và anh Đào Văn T.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Quang không có tài sản chung,

không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai của anh Vũ Văn Q thể hiện:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Quang xác định lời trình bày của chị Dung về

điều kiện kết hôn là đúng, còn về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo anh là vợ chồng không có mâu thuẫn và cũng không có việc anh quan hệ với ngƣời phụ nữ khác. Tuy nhiên trong thời gian anh ở nƣớc ngoài thì anh đƣợc bạn bè ở nhà nói chuyện chị Dung có quan hệ không lành mạnh với ngƣời đàn ông khác. Đến đầu năm 2020 chị Dung bỏ nhà đi theo ngƣời đàn ông khác và cắt đứt mọi liên lạc với anh. Tháng 8/2022 anh về Việt Nam và đƣa các con đến nơi chị Dung đang sống cùng ngƣời đàn ông khác để các con biết, khi gặp chị Dung anh cũng không nói gì vì anh xác định anh không còn tình cảm với chị Dung. Đến nay chị Dung đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh thì anh xác định anh và chị Dung không thể chung sống cùng nhau nữa nhƣng anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Quang xác định vợ chồng có hai con chung là Vũ Thị

H, sinh ngày 04/02/2013 và Vũ Trà M, sinh ngày 21/02/2015 hiện các con đang ở cùng anh và ông bà nội. Khi ly hôn anh có nguyện vọng đƣợc nuôi cả 02 con chung và yêu cầu chị Dung phải cấp dƣỡng nuôi con hàng tháng là 2.000.000đ/ 1 con/ 1 tháng.

Đối với cháu Vũ Gia Bảo, sinh ngày 04/01/2021 mặc dù anh Quang đứng

tên trong giấy khai sinh với tƣ cách là bố cháu bé nhƣng anh Quang xác định cháu Bảo không phải là con chung của anh và chị Dung vì khi chị Dung mang thai và đẻ cháu Bảo thì anh đang lao động tại nƣớc ngoài.

Về tài sản chung, công nợ: Anh Quang xác định anh và chị Dung không

có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Biên bản xác minh tại UBND xã Quang Khải thể hiện: : anh Vũ Văn Q

và chị Vũ Thị D đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang Khải ngày 17/9/2012. Sau khi kết ôn anh chị ở cùng bố mẹ anh Quang tại thôn Vũ Xá, xã Quang Khải và đƣợc bố mẹ anh Quang xây cho một ngôi nhà cấp 4 ở cạnh nhà bố mẹ anh Quang trên cùng thửa đất. Quá trình chung sống vợ chồng anh Quang có mâu thuẫn gì hay không thì thôn, xã không nắm đƣợc vì chƣa lần nào anh chị có đơn đề nghị hòa giải về mâu thuẫn vợ chồng. Năm 2018 anh Quang đi nƣớc ngoài lao động đến tháng 8/2022 thì về sinh sống tại địa phƣơng. Sau khi anh Quang đi nƣớc ngoài đến năm 2019 chị Dung không ở cùng bố mẹ anh Quang nữa mà bỏ ra ngoài sinh sống. Đến nay chị Dung đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh Quang thì đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: theo tài liệu UBND xã nắm đƣợc chị Dung và anh Quang có 03 con chung là Vũ Thị H sinh ngày 04/02/2013, Vũ Trà M sinh ngày 21/02/2015 và Vũ Gia Bảo sinh ngày 04/01/2021. Hiện cháu Hằng, cháu My đang ở cùng anh Quang và ông bà nội còn cháu Bảo ở cùng chị Dung. Khi ly hôn anh Quang có nguyện cọng đƣợc nuôi dƣỡng cháu Hằng và cháu My thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định. Đối với anh Quang có nhà riêng để ở, có bố mẹ hỗ trợ trong việc nuôi con. Anh Quang hiện đang làm hàn xì có thu nhập khoảng 280.000 đồng/ ngày. Mặt khác, từ ngày chị Dung bỏ đi hai cháu ở với ông bà nội đƣợc chăm sóc tốt, khỏe mạnh. Đối với chị Dung từ năm 2019 bỏ nhà đi nên địa phƣơng không nắm đƣợc chị Dung hiện ở đâu, làm gì, thu nhập nhƣ thế nào. Cháu Vũ Gia Bảo không nhập khẩu vào hộ khẩu cùng với anh Quang, chị Dung.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Văn T trình bày: Anh

nhất trí với yêu cầu của chị Vũ Thị D và xác định cháu Vũ Gia Bảo sinh ngày 04/01/2021 là con riêng của anh và chị Dung, không phải con của anh Quang. Anh và chị Dung quen nhau khi làm việc tại Công ty, do làm cùng nên nảy sinh tình cảm, anh cũng nhiều lần nghe chị Dung nói chuyện về việc vợ chồng chị không thể chung sống với nhau đƣợc nữa và chị Dung xác định không còn tình cảm với anh Quang nên mặc dù chị Dung và anh Quang chƣa ly hôn nhƣng chị Dung đã bỏ ra ngoài không sống cùng gia đình anh Quang nữa. Anh và chị Dung đã xét nghiệm ADN và tại kết quả xét nghiệm xác định cháu Vũ Gia Bảo là con của anh chứ không phải con của anh Quang. Khi anh quen biết chị Dung thì anh biết chị Dung đã có chồng và hai vợ chồng hiện có nhiều mâu thuẫn không thể khắc phục đƣợc, anh Quang ở nƣớc ngoài, không ai quan tâm đến ai. Anh Thuận xác định nguyên nhân dẫn đến việc chị Dung xin ly hôn anh Quang không phải vì mối quan hệ của anh và chị Dung vì khi anh chƣa quen biết chị Dung thì giữa chị Dung và anh Quang đã có mâu thuẫn. Khi chị Dung quen anh thì chị Dung thuê nhà trọ để ở, sau này khi chị Dung đẻ cháu Gia Bảo thì chị Dung mới chuyển về ở cùng anh đến nay vì chị Dung không thể một mình nuôi con đƣợc.

- Biên bản lấy lời khai của ông Vũ Văn Tảo bố đẻ anh Quang thể hiện:

Anh Quang, chị Dung đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có làm

thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang Khải. Anh chị chung sống hạnh phúc đƣợc một thời gian đến năm 2018 anh Quang đi nƣớc ngoài thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp và do chị Dung có quan hệ không lành mạnh với ngƣời đàn ông khác và bỏ nhà ra ngoài ở từ khoảng năm 2020 đến nay. Chị Dung đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Quang thì ông thấy chị Dung và anh Quang không thể chung sống đƣợc với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị đƣợc ly hôn để tạo dựng cuộc sống mới. Về con chung, chị Dung anh Quang có 02 con chung là cháu Hằng và cháu My, hiện cả hai cháu đang sống cùng anh Quang và vợ chồng ông. Khi chị Dung, anh Quang ly hôn ông đề nghị Tòa án giao cả hai con cho anh Quang nuôi dƣỡng vì từ khi sinh ra các cháu đã ở cùng vợ chồng ông và anh Quang. Chị Dung bỏ nhà đi không quan tâm, không có trách nhiệm với các con. Nếu anh Quang đƣợc nuôi con, ông cam kết sẽ hỗ sợ anh Quang về mọi mặt để các con có sự phát triển tốt nhất.

Tại phiên toà;

- Anh Quang trình bày: về quan hệ hôn nhân anh xác định anh và chị

Dung không còn tình cảm vợ chồng, không thể chung sống cùng nhau nhƣng anh không đồng ý ly hôn. Về con chung, anh Quang Xác định có 02 con chung là cháu Vũ Thị H, sinh ngày 14/02/2013 và Vũ Trà M, sinh ngày 21/02/2015, khi ly hôn anh đề nghị giao cả hai con cho anh nuôi dƣỡng và yêu cầu chị Dung cấp dƣỡng nuôi con với mức 1.000.000 đồng / con/ tháng. Nếu chị Dung đồng ý cấp dƣỡng một lần đối với các con chung thì anh đồng ý ly hôn. Đối với cháu Vũ Gia Bảo sinh ngày 04/01/2021, anh Quang xác định cháu Bảo không phải là con của anh. Về tài sản chung, công nợ anh Quang không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về

việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và của những ngƣời tham gia tố tụng đến trƣớc thời điểm HĐXX nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 81, 82, 83, 88, 91, 101, 102 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D, xử cho chị Dung đƣợc ly hôn anh Vũ Văn Q; Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Vũ Thị H, sinh ngày 14/02/2013 và Vũ Trà M, sinh ngày 21/02/2015 cho anh Vũ Văn Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Dung cấp dƣỡng nuôi con cho 02 con với mức 1.000.000 đồng / con/ tháng. Chị Dung đƣợc quyền thăm nom con chung không ai đƣợc phép ngăn cản. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị D, xác định anh Đào Văn T là cha đẻ của cháu Vũ Gia Bảo sinh ngày 04/01/2021. Về tài sản chung, vay nợ chung: không đặt ra xem xét, giải quyết. Chị Dung phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dƣỡng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Vũ Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn,

tranh chấp nuôi con, xác định cha cho con giữa chị và anh Vũ Văn Q, tại thời điểm thụ lý vụ án anh Quang sinh sống tại thôn Vũ X, xã Quang K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Do đó TAND huyện Tứ Kỳ thụ lý để giải quyết là đúng về thẩm quyền quy định tại khoản 1, 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Chị Vũ Thị D và anh Đào Văn T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng

mặt. Do đó Tòa án xét xử vắng mặt chị Dung, anh Thuận theo quy định khoản 1 Điều 228 BLTTDS.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D và anh Vũ Văn Q đƣợc tự do

tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang Khải, huyện Tứ Kỳ ngày 17/9/2012 nên đƣợc công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, mặc dù chị Dung và anh Quang trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là khác nhau nhƣng cả hai anh chị đều xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể sống chung cùng nhau đƣợc nữa nên có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Dung và anh Quang đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Dung, xử cho chị Dung đƣợc ly hôn anh Quang là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân về mặt giấy tờ chị Dung và anh

Quang có 03 con chung là cháu Vũ Thị H, sinh ngày 14/02/2013; cháu Vũ Trà M, sinh ngày 21/02/2015 và cháu Vũ Gia Bảo, sinh ngày 04/01/2021. Hiện cháu Hằng và cháu My đang ở cùng anh Quang còn cháu Bảo ở cùng chị Dung. Trƣớc khi xem xét giải quyết về con chung cần xem xét đối với yêu cầu của chị Dung về việc đề nghị xác định cháu Vũ Gia Bảo, sinh ngày 04/01/2021 là con của anh Đào Văn T thì thấy:

Anh Vũ Văn Q đi lao động ở nƣớc ngoài từ năm 2018 đến tháng 8/2022

anh Quang mới về Việt Nam. Trong thời gian anh Quang lao động ở nƣớc ngoài chị Vũ Thị D có quan hệ tình cảm với anh Đào Văn T và có thai với anh thuận, sau đó đẻ cháu Vũ Gia Bảo vào ngày 04/01/2021. Đến nay cả chị Dung, anh Thuận và anh Quang đều xác định cháu Bảo không phải con của anh Quang. Mặt khác tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 12/11/2022 của Công ty TNHH Công nghệ di truyền Novagen xác định anh Thuận và cháu Bảo có quan hệ bố con nên yêu cầu xác định anh Đào Văn T là cha đẻ của cháu Vũ Gia Bảo là có căn cứ nên cần đƣợc chấp nhận.

Nhƣ vậy chỉ có cơ sở xác định chị Dung và anh Quang có hai có chung là

cháu Vũ Thị H, sinh ngày 14/02/2013 và cháu Vũ Trà M, sinh ngày 21/02/2015. Khi ly hôn anh Quang có nguyện vọng đƣợc nuôi cả hai con chung và yêu cầu chị Dung cấp dƣỡng nuôi con hàng tháng là 1.000.000 đồng/con/ tháng. Chị Dung đồng ý giao cả hai con chung cho anh Quang nuôi dƣỡng và cũng có quan điểm cấp dƣỡng nuôi con mức 1.000.000 đồng/ con/ tháng. Xét thấy cháu Hằng và cháu My từ khi sinh ra đến nay ở cùng vợ chồng anh Quang và ông bà nội, hai cháu phát triển tốt về mọi mặt đồng thời cùng có nguyện vọng đƣợc ở với anh Quang và ông bà nội. Anh Quang có nơi ở, có công việc, thu nhập ổn định, có bố mẹ hỗ trợ trong việc nuôi dạy các con còn chị Dung hiện nay không có việc làm nên cần chấp nhận sự thống nhất của anh chị để giao hai con chung cho anh Quang nuôi dƣỡng. Về nghĩa vụ cấp dƣỡng, do hiện nay chị Dung không có việc làm nên không có thu nhập lại đang nuôi con nhỏ nên cần chấp nhận tự nguyện của chị Dung về mức cấp dƣỡng nuôi con 1.000.000 đồng/ con/ tháng là phù hợp. Đối với ý kiến của anh Quang về việc yêu cầu chị Dung cấp dƣỡng cho con chung một lần thì thấy tại phiên tòa chị Dung vắng mặt nên sau này trong quá trình thực hiện việc cấp dƣỡng, giữa chị Dung và anh Quang có thể tự thỏa thuận với nhau về cách thức cấp dƣỡng.

Về tài sản chung, công nợ: Chị Dung, anh Quang trình bày vợ chồng

không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết trong vụ án.

Về án phí: Chị Vũ Thị D khởi kiện vụ án hôn nhân gia đình và phải thực

hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dƣỡng theo quy định.

Đối với Chị Vũ Thị D trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp với anh Vũ

Văn Q nhƣng chung sống nhƣ vợ chồng với ngƣời khác là anh Đào Văn T; Anh Thuận biết chị Dung đang có chồng, chƣa ly hôn nhƣng chung sống nhƣ vợ chồng với chị Dung, hai ngƣời có 01 con là cháu Vũ Gia Bảo. Hành vi này của chị Dung, anh Thuận vi phạm quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân gia đình. Tuy nhiên, trƣớc đó giữa chị Dung và anh Quang đã có mâu thuẫn vợ chồng, đầu năm 2020 do mâu thuẫn chị Dung đã bỏ đi không tiếp tục chung sống với gia đình anh Quang nữa. Việc chị Dung khởi kiện xin ly hôn anh Quang không phải do chị Dung và anh Thuận có mối quan hệ tình cảm, chung sống với nhau. Vì vậy, hành vi của chị Dung, anh Thuận không cấu thành tội Vi phạm chế độ một vợ, một chồng quy định tại Điều 182 BLHS. Tuy nhiên, đến thời điểm chị Dung khởi kiện xin ly hôn anh Quang chị Dung vẫn đang chung sống cùng anh Thuận vì vậy đến nay thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính vẫn còn nên TAND huyện Tứ Kỳ kiến nghị đến UBND xã Tân Hƣơng, huyện Ninh Giang xử phạt vi phạm hành chính hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng của chị Dung, anh Thuận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 88, 91, 101, 102 của Luật Hôn nhân

và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị D đƣợc ly hôn anh Vũ Văn Q

2. Về con chung:

2.1. Về yêu cầu xác định cha cho con:

Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị D. Xác định anh Đào Văn T, sinh năm

1993 có địa chỉ tại thôn La T, xã Tân H, huyện Ninh G, tỉnh Hải Dƣơng là cha đẻ của cháu cháu Vũ Gia Bảo, sinh ngày 04/01/2021 có địa chỉ tại thôn La T, xã Tân H, huyện Ninh G, tỉnh Hải Dƣơng

2.2. Xác định chị Vũ Thị D và anh Vũ Văn Q có 02 con chung là cháu

Vũ Thị H, sinh ngày 14/02/2013 và Vũ Trà M, sinh ngày 21/02/2015. Giao cho anh Vũ Văn Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng cả hai con chung đến khi các con chung trƣởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Dung có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con cho anh Quang với mức 1.000.000 đồng /01 con/01 tháng bắt đầu từ ngày 01/6/2023. Chị Dung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn

đề nghị thi hành án, người phải thi hành án không tự nguyện thi hành những khoản tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm Hôn

nhân gia đình và 300.000đ án phí cấp dƣỡng nuôi con đƣợc đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000735 ngày 07/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Dung còn phải nộp 300.000đ.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai , báo cho anh Vũ Văn

Q biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Vũ Thị D và anh Đào Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân

sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ