- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nông Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/ HNGĐ-ST Ngày 28 - 9 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Học và ông Nông Thế Hạp.
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 74/2023/TLST-HNGĐ ngày 19/7/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/9/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Thị N, sinh năm 2001;
Nơi đăng ký HKTT: xóm R, xã Đ, huyện K, Cao Bằng.
Nơi ở hiện nay: Xóm T, xã D, huyện K, Cao Bằng. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nông Tiến B, sinh năm 1999;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm R, xã Đ, huyện K, Cao Bằng. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 06/7/2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn Nông Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh B kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng ngày 10/9/2021, việc đăng ký do hai bên tự nguyện tiến hành. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống ở nhà anh B tại xóm R, xã Đ, huyện K, Cao Bằng. Sau khi kết hôn một thời gian thì chị N phát hiện anh B nghiện ma tuý, nhiều lần động viên và khuyên bảo nhưng anh B không bỏ được ma túy. Ngoài ra, anh B còn thường xuyên mang đồ đạc đi bán để có tiền sử dụng ma túy. Do anh B không thay đổi nên từ tháng 6/2022 chị đưa con về nhà ngoại sinh sống cho đến nay. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh B, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đã làm đơn yêu cầu Toà án cho chị được ly hôn với anh B.
- Về con chung: Chị và anh B có 01 con chung tên là: Nông Khánh A, sinh ngày 22/5/20xy. Hiện nay, con đang ở với chị tại xóm T, xã D, huyện K, Cao Bằng. Sau khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh B cấp dưỡng 4.000.000đ/tháng đến khi con trưởng thành (18 tuổi).
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn Nông Tiến B: Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Nông Tiến B nhiều lần nhưng anh đều trốn tránh, vắng mặt, không tham gia phiên họp kiểm, tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ bằng việc đến nơi cư trú của anh B để xác minh. Tại biên bản xác minh trưởng xóm Hoàng Văn G xác nhận: Hiện nay, anh B không có mặt tại địa phương, anh B đi khỏi địa phương được khoảng hơn một tháng. Anh được trực tiếp tống đạt giấy triệu tập của Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh cho anh B thời điểm anh B còn ở địa phương.
Tại phiên tòa:
Chị Nông Thị N giữ nguyên yêu cầu như đơn khởi kiện, xác định vợ chồng đã không còn tình cảm với nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh B, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con, các vấn đề khác không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo và chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147, 227, 228, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 53, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố cho chị Nông Thị N được ly hôn với anh Nông Tiến B;
- Về con chung: Giao cháu Nông Khánh A, sinh ngày 22/5/2021 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Chị N không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với anh B. Anh B có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét;
- Về án phí: Chị Nông Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Nông Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Nông Tiến B, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nông Tiến B có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xóm R, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng. Do đó Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nông Tiến B được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Nông Tiến B là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị N và anh Nông Tiến B kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/9/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng. Vì vậy, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Chị N xác định trong cuộc sống chung vợ chồng của anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B nghiện ma tuý, mặc dù chị và gia đình đã động viên nhưng anh B không cai được và thường xuyên mang đồ đạc trong nhà mang đi bán. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên chị đã đưa con về nhà ngoại sinh sống từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Từ khi chị về nhà ngoại sinh sống anh B không hề thay đổi hoặc có biện pháp hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Hiện nay, anh B đi đâu và làm gì không báo cho chị N biết.
Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa chị N và anh B đã xảy ra mâu thuẫn trong hôn nhân và thực tế đã không còn chung sống cùng nhau dẫn đến hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mâu thuẫn xảy ra kéo dài nhưng chị N, anh B không có biện pháp để hàn gắn mối quan hệ này và mặc dù anh B biết việc chị N xin ly hôn với anh nhưng anh đã thờ ơ, không quan tâm và cố tình trốn tránh, không đến Tòa án để nêu ý kiến của mình và cũng không mong muốn Tòa án tiến hành hòa giải. Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh B để các bên sớm ổn định cuộc sống riêng.
* Về con chung: Chị Nông Thị N và anh Nông Tiến B có 01 con chung tên là: Nông Khánh A, sinh ngày 22/5/20xy. Từ khi chị N về nhà ngoại sinh sống anh B không quan tâm, hỏi han hay chu cấp tiền để nuôi dưỡng con chung, ngoài ra hiện nay cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi về nguyên tắc sẽ giao cho người mẹ nuôi dưỡng nếu không có thoả thuận khác. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung của anh, chị cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn là đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
* Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên toà chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần chấp nhận.
Việc cấp dưỡng sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
* Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nông Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí: Theo quy đinh tai khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Nông Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nông Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thị N được ly hôn với anh Nông Tiến B.
2. Về con chung: Giao cho chị Nông Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nông Khánh A, sinh ngày 22/5/20xy đến tuổi trưởng thành (18 tuổi), (Hoặc đến khi có sự thay đổi bằng bản án, quyết định của Tòa án thay thế). Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Khi xét thấy cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nông Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0004306 ngày 10/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh. Xác nhận chị N đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh B vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện Trùng Khánh; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Trùng Khánh; - UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng; - Lưu HS vụ án; - Lưu án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Thuý Quỳnh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bế Thị Thùy Linh |