vanban.org

Bản án 24/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Q .

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Ngọc Q được ly hôn với anh Phạm Văn Đ . Giấy chứng nhận kết hôn số 10, ngày 31/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C , tỉnh A không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Q .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH A
Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03 - 3 - 2023
V/v “Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình - ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn H.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Diệp Thị Thu N.

2. Ông Huỳnh Văn T.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị L - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 463/2022/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2022 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/02/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc Q , sinh năm 1996.

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C , tỉnh A .

2. Bị đơn: anh Phạm Văn Đ , sinh năm 1996.

Địa chỉ: ấp H, xã Đ , huyện T , tỉnh A .

(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt, không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 14/12/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q trình bày: sau thời gian tìm hiểu, chị Q và anh Đ tiến đến hôn nhân vào năm 2020, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã A, huyện C , tỉnh A và được UBND xã A cấp giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 31/01/2020. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Đ không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình. Khi chị Q góp ý thì vợ chồng cãi vã nhau, từ đó mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng. Mặc dù được cha, mẹ hai bên hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Đến tháng 5 năm 2020, anh Đ bỏ nhà đi cho đến nay. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng gay gắt nên chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: chị Q yêu cầu ly hôn với anh Đ .

- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn anh Phạm Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên đã vi phạm Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều: 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên:

+ Về hôn nhân: chị Q được ly hôn với anh Đ .

+ Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

+ Chị Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Văn Đ có địa chỉ tại xã Đ, huyện T , tỉnh A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Phạm Văn Đ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập anh Đ đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Phạm Văn Đ chung sống với nhau từ năm 2020, đã thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn nên được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C , tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10, ngày 31/01/2020. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị Q và anh Đ phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Q thấy rằng, quá trình chung sống, chị Q và anh Đ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Chị Q cho rằng, anh Đ không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vì vậy, chị Q và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, tạo điều kiện để anh Đ và chị Q hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, anh Đ không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được chung sống với chị Q .

Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 24/10/2022, được đại diện Ban ấp H, xã Đ , huyện T cung cấp như sau: chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Phạm Văn Đ tiến đến hôn nhân vào năm 2020. Hiện tại, chị Q và anh Đ không còn chung sống tại địa phương.

Từ những nhận định tại mục [3], xét thấy chị Q và anh Đ thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Mặc dù được cha mẹ hai bên (bên vợ và bên chồng) hòa giải nhưng chị Q và anh Đ vẫn sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị Q vẫn nhất quyết ly hôn vì giữa chị và anh Đ không còn tình nghĩa vợ chồng. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Q và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc Q .

Quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: chị Q yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc Q .

1.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Ngọc Q được ly hôn với anh Phạm Văn Đ .

Giấy chứng nhận kết hôn số 10, ngày 31/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C , tỉnh A không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về quan hệ con chung và tài sản chung: không có.

1.3. Về nợ chung: ghi nhận chị Q xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Phạm Văn Đ vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0011272 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh A (chị Q đã nộp đủ).

3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ