- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Vũ Thùy D. Chị Dương được ly hôn với anh Huỳnh Hữu L.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2023 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tài
Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khánh Nguyên – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Vũ Thùy D, sinh năm 1990 (xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: số 6 đường số 184, tổ 2, ấp 2, xã BM, huyện CC, thành phố HCM.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Hữu L, sinh năm 1980 (Vắng mặt không có lí do).
Nơi cư trú: số nhà 69/3 ấp T, xã ĐĐ, huyện TP, tỉnh BT.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2023, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Vũ Thùy D trình bày:
Tôi và anh Huỳnh Hữu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã ĐĐ cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/12/2010. Cuộc sống hôn nhân của tôi và anh L thời gian gần đây bất đồng quan điểm sống nên xảy ra nhiều mâu thuẫn nên không còn hạnh phúc, khoảng từ năm 2018 do mâu thuẫn ngày càng nhiều nên tôi đã sống ly thân anh L cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu ly hôn anh L. Khi sống chung chúng tôi không có con chung nên tôi không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung không có, nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung không có, nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng anh Huỳnh Hữu L vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Huỳnh Hữu L không đến Tòa để tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Vũ Thùy D. Chị D không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên đề nghị không xem xét.
Về con chung: Chị D trình bày không có con chung nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị D trình bày không có tài sản chung nên không xem xét.
Về nợ chung: Chị D trình bày không có nợ chung nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào đơn xin ly hôn của chị Đỗ Vũ Thùy D yêu cầu xin ly hôn với anh Huỳnh Hữu L nên căn cứ vào điều 51 Luật hôn nhân gia đình xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”.
Anh Huỳnh Hữu L hiện đang cư trú tại xã ĐĐ, huyện TP, tỉnh BT. Căn cứ vào Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BT.
Xét việc anh Huỳnh Hữu L vắng mặt tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy: Anh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng anh L vẫn không có mặt. Việc vắng mặt không rõ lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh L theo quy định Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị D có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị D theo qui định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Đỗ Vũ Thùy D và anh Huỳnh Hữu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Cả hai đều có đủ điều kiện kết hôn và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của chị D Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn chị D và anh L có thời gian ngắn sống chung hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, nên nay tình cảm vợ chồng không còn nên cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Theo biên bản xác minh ngày 02/4/2023 của Tòa án đối với bà Nguyễn Thị Đ là mẹ ruột anh L thì bà Đ cho biết là giữa chị D và anh L có mâu thuẫn trong cuộc sống nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hiện tại chị D và anh L đã sống ly thân. Nhiều lần bà nhận được Thông báo, giấy triệu tập của Tòa án tống đạt cho anh L. Bà có chuyển giao lại cho anh L đầy đủ, đúng thời gian quy định như đã cam kết nhưng anh L không đến Tòa án theo nội dung Tòa án đã thông báo và triệu tập. Điều đó chứng tỏ anh L không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị D, không muốn vợ chồng hòa giải để đoàn tụ với nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh L đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh L là có căn cứ. Phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Chị D không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về con chung: Chị D trình bày không có con chung, anh L không ý kiến về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị D trình bày không có tài sản chung, anh L không ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị D trình bày không có nợ chung, anh L không ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị D phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, Điều 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Vũ Thùy D. Chị Dương được ly hôn với anh Huỳnh Hữu L.
Chị D không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về con chung: Chị D trình bày không có con chung, anh L không ý kiến về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị D trình bày không có tài sản chung, anh L không ý kiến về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Chị D trình bày không có nợ chung, anh L không ý kiến về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Đỗ Vũ Thùy D phải nộp số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000994 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
6. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Thạnh Phú; - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú; - UBND xã Đại Điền; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Thúy |