- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc L được ly hôn với Anh Bùi Quang H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 07 – 2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Dần
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Lọt; Bà Trịnh Thị Thắng.
- Thư ký ghi phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 03 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 06 năm 2023.
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc L, sinh năm 2000. Địa chỉ: xóm V, xã M, huyện L, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09/05/2023.
- Bị đơn: Anh Bùi Quang H, sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT: xóm Đ, xã T, huyện L, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Chị Bùi Thị Ngọc L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và Anh Bùi Quang H kết hôn ngày 18/02/2021, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau. Đến đầu năm 2022 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có, đời sống chung không thể kéo dài vì không thể có có con chung. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 07/2022. Cho đến thời điểm này, Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị L đề nghị ly hôn với Anh Bùi Quang H.
Về con chung: Chị L và anh H không có con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về công nợ chung: Không có.
Ngoài ra Chị L không có yêu cầu gì thêm.
Về phía Anh Bùi Quang H: Sau khi thụ lý, Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên toà nhưng không có kết quả, anh H vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi cho Toà án.
* Tại biên bản xác minh ngày ngày 09/06/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn chính quyền địa phương nơi cư trú của chị Bùi Thị Ngọc L và anh Bùi Thị Hoa có nội dung:
Anh Bùi Quang H và Chị Bùi Thị Ngọc L kết hôn ngày 10/03/2021, trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau. Đến đầu năm 2022 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có, đời sống chung không thể kéo dài vì không thể có con, khả năng đoàn tụ là rất khó.
Về con chung: Anh H và Chị L không có con chung.
Về sự có mặt/vắng mặt của Anh Bùi Quang H tại nơi cư trú: Anh Bùi Quang H đi làm ăn xa thi thoảng về và hiện tại vắng mặt tại nơi cư trú, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.
*Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình công nhận việc chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa Chị L và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị L.
- Về con chung: Không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về công nợ chung: Không có nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Đề nghị căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Chị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình “Ly hôn”. Bị đơn là Anh Bùi Quang H có hộ khẩu thường trú tại xóm Đ, xã T, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, 2 Điều 177 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải theo quy định tại Điều 211 BLTTDS. Tiến hành hoà giải theo quy định tại Điều 205 BLTTDS để hai bên thoả thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Chị L và anh H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà, đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Bị đơn là Anh Bùi Quang H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị anh H và Chị L.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa Chị L và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống Chị L và anh H không có hạnh phúc do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột vì thế cuộc sống gia đình thường xuyên bất hoà. Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa anh H và Chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị L là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, cấp dưỡng: Quá trình chung sống, anh H và Chị L không có con chung nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung: không có nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc L được ly hôn với Anh Bùi Quang H.
2. Về con chung: Không có nên HĐXX không xem xét
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có nên HĐXX không xem xét
4. Về án phí: Chị Bùi Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004458 ngày 03/03/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Chị Bùi Thị Ngọc L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc ngày niêm yết bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - CCTHA huyện Lạc Sơn; - UBND xã Miền Đồi; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lò Văn Dần |