- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N ly hôn anh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22 - 5 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN – TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thấm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Xô
Ông Nguyễn Chí Dựng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hiền Lương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 22/5/2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:15/2023/QĐXX-ST ngày 13 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số:13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1988. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Lê Văn H sinh năm 1984. Vắng mặt tại phiên tòa.
Đều có địa chỉ: KDC B 3, phường M, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Lê Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và được đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M (nay là phường M) vào ngày 06 tháng 11 năm 2009. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng luôn bất đồng với nhau về quan điểm sống, đôi bên không có tiếng nói chung, nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nhiều lần, vợ chồng đã tự trao đổi cũng như được gia đình bố mẹ hai bên đứng ra động viên, khuyên bảo, nhưng đều không tìm được cách giải quyết, quan hệ vợ chồng căng thẳng. Tháng 01/2023, chị N đã thuê nhà ra chỗ khác ở, mọi quan hệ về tình cảm và kinh tế hoàn toàn bị cắt đứt từ đó. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mâu thuẫn giữa đôi bên không thể khắc phục được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Anh Lê Văn H trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị N trên tinh thần tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M (nay là phường M) vào ngày 06 tháng 11 năm 2009. Quá trình chung sống, vợ chồng thỉnh thoảng có xẩy ra cãi vã nhau, do bản thân anh có những lời nói, cách cư xử không đúng mực với chị N. Tháng 2/2023, vợ chồng cãi nhau, anh có tát chị N, dẫn đến việc chị N bỏ nhà đi sau lại về. Kể từ khi đó, vợ chồng anh không còn quan hệ tình cảm, chị N tránh mặt, không còn liên hệ trao đổi gì với anh. Nay chị N xin ly hôn, anh đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải, còn nếu chị N vẫn giữ nguyên quan điểm được ly hôn thì anh có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con.
Về con chung: Chị N và anh H có hai con chung là cháu Lê Đức M, sinh ngày 15/12/2010 và cháu Lê Phương A, sinh ngày 05/6/2013. Hiện hai cháu đang ở nhà cùng anh H. Nay do chưa khắc phục được về nơi ở, nên chị N nhất trí giao cả hai cháu cho anh H được nuôi dưỡng. Anh H nhất trí và tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Cháu Lê Đức M và cháu Lê Phương A đều có nguyện vọng xin được ở cùng chị N.
Về tài sản chung, riêng, vay nợ: Chị N và anh H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xác minh tại địa phương phường M cung cấp: Chị N và anh H đăng ký kết hôn tại UBND phường M. Quá trình chung sống anh chị nảy sinh mâu thuẫn, hiện không còn tình cảm trách nhiệm đối với nhau. Nay chị N đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu nuôi dưỡng con chung, thì địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, chị N có mặt giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Anh H vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện VKSND thị xã Kinh Môn phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị N đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS năm 2015. Đối với bị đơn anh Lê Văn H vắng mặt khi được Tòa án triệu tập là vi phạm quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS năm 2015. Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Lê Văn H.
Về con chung: Giao cháu Lê Đức M, sinh ngày 15/12/2010 và cháu Lê Phương A, sinh ngày 05/6/2013 cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, riêng, công nợ: Không yêu cầu nên không đặt ra việc giải quyết
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Lê Văn H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại KDC B, phường M, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Quá trình Tòa án đưa vụ án ra xét xử anh Lê Văn H không có mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do vậy, TAND thị xã Kinh Môn áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Lê Văn H là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N kết hôn với anh Lê Văn H trên tinh thần tự nguyện, được đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét nguyên nhân gây mâu thuẫn dẫn tới việc chị N đề nghị xin ly hôn anh H, chủ yếu là do đôi bên có sự bất đồng với nhau về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện anh chị đã tự sống ly thân. Quá trình Tòa án tiến hành hòa giải chị N và anh H đều không thống nhất được quan điểm của mình. Tại phiên tòa chị N giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn, anh H vắng mặt. Những điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị N và anh H không có khả năng hàn gắn, mâu thuẫn giữa đôi bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không thành, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N. Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Văn H là phù hợp.
Về con chung: Chị N và anh H có hai con chung là cháu Lê Đức M, sinh ngày 15/12/2010 và cháu Lê Phương A, sinh ngày 05/6/2013. Xét yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị N và anh H, cùng nguyện vọng của hai con thì thấy: hiện hai cháu đang ở ổn định cùng anh H, khả năng chăm sóc nuôi dưỡng hai con của chị N hiện nay không có, tại phiên tòa chị N vẫn tự nguyện giao cả hai con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Do vậy, để đảm bảo sự ổn định, quyền lợi về mọi mặt của các cháu, nên cần chấp nhận giao cháu M và cháu Anh cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Anh H tự nguyện không yêu cầu, nên không đặt ra việc giải quyết.
Về chia tài sản: Các đương sự đều không yêu cầu, nên không đặt ra việc giải quyết trong vụ án.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án thì chị N phải nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn H.
2.Về con chung: Giao con chung cháu Lê Đức M, sinh ngày 15/12/2010 và cháu Lê Phương A, sinh ngày 05/6/2013 cho anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu M, Anh đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về yêu cầu cấp dưỡng: Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về chia tài sản, số nợ chung, riêng: Các bên không yêu cầu nên không đặt ra việc giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ tiền án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0002059 ngày 10/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn. Chị N đã nộp đủ.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Kinh Môn; - Chi cục THADS thị xã Kinh Môn; - UBND phường M; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ ,VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỦ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền |