- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Huyền T và Phạm Văn H ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Huyền T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22/9/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Bùi Diệu Lương.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Trương Thị Kim Anh.
+ Bà Lê Thị Liền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Lăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Huyền T; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn H; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị Huyền T trình bày:
Chị và anh Phạm Văn H kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Quảng Trị vào ngày 31/7/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì anh H bắt đầu chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần và không chăm lo cho gia đình. Chị và anh H đã không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Chị T nhận thấy không thể cố gắng tiếp tục chung sống với anh H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Phạm Văn C, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2007 và cháu Phạm Thị Thảo V, sinh ngày 06 tháng 02 năm 2015. Chị T yêu cầu được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Phạm Văn H, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên anh H không đến tham gia tố tụng tại các phiên họp, phiên tòa và không trình bày ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 96, 97, 175, 177, 178, 195, 196, 203, 220, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý, quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ; thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo các phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, tuân thủ quy định của pháp luật về thời hạn thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử và thực hiện việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trước khi tham gia phiên tòa.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không đến phiên tòa mà không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện, cho chị Vũ Thị Huyền T được ly hôn anh Phạm Văn H. Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Vũ Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung cháu Phạm Văn C, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2007 và cháu Phạm Thị Thảo V, sinh ngày 06 tháng 02 năm 2015, anh Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị Vũ Thị Huyền T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Sau khi xem xét yêu cầu của nguyên đơn, xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện H, tỉnh Quảng Trị nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập đến phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa đúng trình tự thủ tục tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Huyền T và anh Phạm Văn H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Quảng Trị vào ngày 31/7/2006. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do không phù hợp nhau về lối sống. Chị T và anh H đã không chung sống với nhau từ đầu năm 2023 nay và không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là cháu Phạm Văn C, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2007 và cháu Phạm Thị Thảo V, sinh ngày 06 tháng 02 năm 2015. Hiện nay, hai cháu ở với chị T và được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T đang là lao động tự do, có mức thu nhập khoảng từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng/tháng và có nhà ở ổn định nên đủ điều kiện để có thể tự mình nuôi dưỡng được cả hai con. Mặt khác, cháu C và cháu V đều có nguyện vọng được ở với chị T để được chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị T về con chung, giao cả hai cháu Phạm Văn C và Phạm Thị Thảo V cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Huyền T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Huyền T được ly hôn anh Phạm Văn H.
Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Văn C, sinh ngày 21 tháng 9 năm 2007 và cháu Phạm Thị Thảo V, sinh ngày 06 tháng 02 năm 2015 cho chị Vũ Thị Huyền T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Vũ Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số CC/2021/0000373 ngày 23/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Chị Vũ Thị Huyền T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Hải Lăng; - THADS huyện Hải Lăng; - UBND xã H; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bùi Diệu Lương |