- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T2 khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 1-0003918/HĐTD n…"
- Tòa quyết gì? [1] Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1.
- Căn cứ chính? Luật Phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2023/DS-ST Ngày: 27/02/2023 Vv: “Tranh chấp hợp đồng Vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Quỳnh;
2. Bà Võ Thị Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/02/2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 263/2022/TLST-DS ngày 13/10/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2023/QĐHPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân T2; địa chỉ: Số E đường số C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp cho Quỹ tín dụng nhân dân T2: Ông Nguyễn Ngọc T sinh năm 1978; địa chỉ: Số E đường số C, phường T, Quận G, Tp . (Văn bản ủy quyền số 25/UQ-QTD ngày 28/02/2022) (Vắng mặt-có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H sinh năm 1976; địa chỉ: Số F T, Tổ A, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T1 sinh năm 1971; địa chỉ: Số F T, Tổ A, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; Các bản tự khai; Biên bản không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T2 có ông Nguyễn Ngọc T là đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 24/9/2020 Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ và bà Nguyễn Thị Ngọc H có ký hợp đồng tín dụng số 1-0003918/HĐTD với số tiền vay là 30.000.000 đồng, thời hạn vay 10 tháng, lãi suất 11.558%/năm; hình thức trả nợ vay: trả gốc và lãi hàng tuần; mục đích sử dụng vốn: “Mua xe gắn máy”.
Tài sản đảm bảo tiền vay: Khoản cho vay tín chấp (không có tài sản bảo đảm).
Căn cứ Thông báo nợ lập ngày 27/02/2023, nghĩa vụ mà người bị kiện đã thanh toán và còn phải thanh toán như sau:
+ Về nợ gốc: 30.000.000 đồng; Đã trả được: 16.410.500 đồng; Còn phải trả: 13.589.500 đồng.
+ Về nợ lãi: 9.263.000 đồng (Bao gồm: Lãi trong hạn: 2.857.000 đồng; Lãi quá hạn: 6.406.000 đồng); Đã trả được: 641.700 đồng
Tổng số tiền phải trả cho Quỹ tín dụng là: 22.210.800 đồng.
Trên đây là khoản cho vay cho thành viên là người dân mà Quỹ tín dụng thực hiện theo Chỉ thị số 06 của Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo của Quận ủy và Ủy ban nhân dân Quận N hạn chế nạn cho vay nặng lãi, góp phần xóa đói, giảm nghèo và ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương thông qua hệ thống Cộng tác viên. Quá trình vay vốn bà Nguyễn Thị Ngọc H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay như thỏa thuận, mặc dù Quỹ tín dụng và Cộng tác viên đã nhiều lần nhắc nhở.
Nay Quỹ tín dụng kính trình Tòa án nhân dân Quận 7, TPHCN xét xử để buộc: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho Q tín dụng nhân dân Tân Quy Đ tổng số tiền là 22.210.800 đồng và số tiền lãi phát sinh (nếu có) tính theo lãi suất quá hạn trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực trả hết nợ; Trả 01 lần ngay sau khi Quyết định, hoặc Bản án có hiệu lực của Toà án.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Ngọc H không trả hoặc trả không đầy đủ, thì Quỹ tín dụng nhân dân T2 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý theo đúng quy định pháp luật để thu hồi nợ.
Tòa án giải quyết vụ án. Toà án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định pháp nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến, không có văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7:
1. Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng năm 2015.
3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T2 khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 1-0003918/HĐTD ngày 24/9/2020, thì đây là tranh chấp về “Hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H cư trú tại địa chỉ: Số F T, Tổ A, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về hình thức
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1 các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về các yêu cầu của đương sự:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H:
Xét, Căn cứ hợp đồng tín dụng số 1-0003918/HĐTD ngày 24/9/2020, Quỹ tín dụng nhân dân T2 đã cho bà Nguyễn Thị Ngọc H vay với số tiền vay là 30.000.000 đồng, thời hạn vay 10 tháng, lãi suất 11.558%/năm; hình thức trả nợ vay: trả gốc và lãi hàng tuần; mục đích sử dụng vốn: “Mua xe gắn máy”.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đã được nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đông giải ngân và nhận đủ số tiền 30.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc H đã thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân T2 số tiền là 17.024.200 đồng, trong đó số tiền nợ gốc đã thanh toán là 16.410.500 đồng và số tiền nợ lãi đã thanh toán là 614.700 đồng.
Tuy nhiên kể từ ngày 26/11/2020 bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và lãi nên từ ngày 26/11/2020 nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ đã chuyển khoản vay của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H qua nợ quá hạn.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 27/02/2023, nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải thanh toán tổng cộng số tiền là: 22.210.800 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm năm mươi tám ngàn tám trăm đồng), trong đó số tiền nợ gốc là: 13.589.500 đồng (Mười ba triệu năm trăm tám mươi chín ngàn năm trăm đồng) và số tiền nợ lãi tính từ ngày 26/11/2020 đến ngày 27/02/2023 là: 8.621.300 đồng (Tám triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn ba trăm đồng).
Xét, theo quy định của pháp luật:
+ Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”.
+ Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Xét, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho b bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1. Tuy nhiên bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1 không đến tòa trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho tòa nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1 đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
Do đó, yêu cầu của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Đ buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải thanh toán tổng số tiền là: 22.210.800 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm năm mươi tám ngàn tám trăm đồng), trong đó số tiền nợ gốc là: 13.589.500 đồng (Mười ba triệu năm trăm tám mươi chín ngàn năm trăm đồng) và số tiền nợ lãi tính từ ngày 26/11/2020 đến ngày 27/02/2023 là: 8.621.300 đồng (Tám triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn ba trăm đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về thời hạn trả nợ:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T2 yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về tiền lãi sau ngày xét xử sơ thẩm:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T2 yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 1-0003918/HĐTD ngày 24/9/2020 cho đến khi thi hành án xong.
Căn cứ Điều 7 của hợp đồng tín dụng số 1-0003918/HĐTD ngày 24/9/2020: “Số nợ gốc, lãi tiền vay đến hạn mà bên vay không trả được hoặc trả không đầy đủ và không được Quỹ tín dụng cho cơ cấu lại thời gian trả nợ hoặc thời hạn cơ cấu lại nợ đã hết thì Q tín dụng sẽ chuyển toàn bộ dư nợ gốc thực tế kể cả phần dư nợ chưa đến hạn (nếu có) theo Hợp đồng này sang nợ quá hạn. Quỹ tín dụng sẽ áp dụng mức lãi suất tính đối với phần nợ gốc, tiền lãi vay không trả được tương tự như cách tính lãi chậm trả tại Khoản 2, Khoản 3, Điều 3 Hợp đồng này”.
Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Áp dụng các Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Luật Phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014,
Xử:
[1] Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân T2.
Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải có trách nhiệm trả cho Q tín dụng nhân dân Tân Quy Đ số tiền tổng cộng tính đến ngày 27/02/2023 là: 22.210.800 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm năm mươi tám ngàn tám trăm đồng), trong đó số tiền nợ gốc là: 13.589.500 đồng (Mười ba triệu năm trăm tám mươi chín ngàn năm trăm đồng) và số tiền nợ lãi tính từ ngày 26/11/2020 đến ngày 27/02/2023 là: 8.621.300 đồng (Tám triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn ba trăm đồng).
Trả ngay 01 lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Kể từ ngày 28/02/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số 1-0003918/HĐTD ngày 24/9/2020 của Quỹ tín dụng nhân dân T2 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Quỹ tín dụng nhân dân T2 các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 1.110.540 đồng.
Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Quỹ tín dụng nhân dân T2 là 707.425 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: AA/2021/0014875 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân T2 và bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1 được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 1, 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKS ND Q.7; - Chi cục THADS Q.7; - Đương sự; - Lưu, hồ sơ (Tk. Thanh). | Trần Thị Xuân Duyên |