- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ly Van N pham toi huy hoai rung - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn N phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 243 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/HSST Ngày 29/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Văn Tuyến.
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông: Nguyễn Duy Chung - Cán bộ địa chính xã Lang Quán.
2 - Ông: Phạm Văn Ninh - Phó ban pháp chế HĐND huyện Yên Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thuý Nga - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2022/HSST, ngày 11 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 3 năm 2022 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 40/2022/TB-TA ngày 14 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo đối với bị cáo:
Lý Văn N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/1974, tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn Khuổi Ma, xã Hùng Lợi, hyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: H’Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lý Văn X (đã chết) và con bà: Ngô Thị X1 (đã chết). Anh, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là thứ năm. Vợ: Hoàng Thị D, sinh năm 1975. Con: Có 04 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Kim Tuyến - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang, (Có mặt).
- Bị hại: Ủy ban nhân dân xã H - Người đại diện theo pháp luật: Ông Linh Văn Ch - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã H.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Triệu Văn Q - Chức vụ: Phó chủ tịch
(có đơn xin xét xử vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Lý Văn N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Lý Văn N, sinh năm 1974, trú tại thôn Khuổi Ma, xã Hùng Lợi, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thiếu đất canh tác nên N đã nảy sinh ý định phát rừng để lấy đất trồng cây gỗ Mỡ phát triển kinh tế gia đình, khoảng 6 giờ một ngày đầu tháng 4 năm 2021 (không nhớ chính xác ngày), N mang theo 01 con dao tư chuôi gỗ, đi bộ từ nhà đến khu vực rừng phòng hộ thuộc lô 37, 38-RTG, khoảnh 429 (theo bản đồ điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng tại Quyết định số 1859/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 của UBND tỉnh Tuyên Quang) do Ủy ban nhân dân xã Hùng Lợi quản lý, N dùng dao phát (chặt phát) các cây thân gỗ, cây dây leo, giang, nứa và cây bụi, một mình N chặt, phát liên tục trong 02 ngày hủy hoại tổng diện tích là 3.057m2, chặt hạ 13 cây thân gỗ nhóm VI đến nhóm VIII; 22 búi nứa tép; 04 búi giang, các cây bụi và cây dây leo khác. Sau khi phát xong diện tích trên, Lý Văn N chờ để các cây bị chặt hạ khô sẽ tiến hành đốt, dọn để trồng cây gỗ Mỡ. Ngày 19/10/2021, tổ công tác Trạm Kiểm lâm Đèo Muồng thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Y, phối hợp cùng chính quyền địa phương xã H kiểm tra phát hiện vụ việc phá rừng trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 05/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: Trị giá lâm sản bị thiệt hại là 1.652.400 đồng (Một triệu sáu trăm năm hai nghìn bốn trăm đồng).
Cáo trạng số 19/QĐ-KSĐT, ngày 09/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố các bị cáo Lý Văn N về tội “Hủy hoại rừng” theo khoản 1 Điều 243 - Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lý Văn N theo tội danh, Điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn N phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lý Văn N từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt
tiền) đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Giao cho UBND xã H, huyện Y quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật đối 13 cây thân gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng là 1,646m3.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được cải tạo không giam giữ cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện khách quan các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Lý Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Nay bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của những người liên quan, cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian 02 ngày đầu tháng 4/2021, Lý Văn N đã có hành vi dùng dao tư chặt phát, hủy hoại diện tích 3.057 m2 rừng tại khu vực thôn Khuổi Ma, xã H, hyện Y, tỉnh Tuyên Quang, thuộc lô 37, 38-RTG, khoảnh 429 chức năng rừng phòng hộ (theo bản đồ điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng tại Quyết định số 1859/QĐ-UBND ngày 31/12/2016 của UBND tỉnh Tuyên Quang) do Ủy ban nhân dân xã Hùng Lợi quản lý, mục đích lấy đất để trồng cây gỗ Mỡ; Lâm sản bị thiệt hại là 22 búi nứa tép; 04 búi giang và 13 cây thân gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng là 1,646m3, có tổng trị giá là 1.652.400đồng (Một triệu sáu trăm năm hai nghìn bốn trăm đồng).
Hành vi của Lý Văn N đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 243 - Bộ luật hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo Lý Văn N về hành vi “Hủy hoại rừng” là đúng người, đúng tội.
Xét về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm rừng phòng hộ do UBND xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang quản lý, gây nguy hại đến tài nguyên rừng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây ra hạn hán, lũ lụt. Vì vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là dân tộc thiểu số (dân tộc Dao) sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đại diện UBND xã H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự cần áp dụng để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự; bị cáo là dân tộc H’Mông nhận thức pháp luật hạn chế, có đơn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của chính quyền địa phương. Do vậy để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam, mà cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản gì có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: UBND xã H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản bị thiệt hại: Quá trình điều tra xác định lâm sản bị thiệt hại là 22 búi nứa tép; 04 búi giang và 13 cây thân gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng là 1,646m3. Đối với cây nứa và cây giang do bị chặt hạ, đốt cháy không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý. Đối với 13 cây thân gỗ từ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng 1,646m3 để lại tại hiện trường xét thấy diện tích đất rừng thuộc UBND xã H quản lý, nên cần giao cho UBND xã H quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Lý Văn N khai nhận đã sử dụng 01 con dao tư, chiều dài khoảng 40cm (Chuôi gỗ dài 10cm, chiều dài lưỡi dao 30cm) dao cũ đã qua sử dụng để chặt, phát cây rừng, sau đó cất tại nhà, nhưng nay không tìm thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 243 của Bộ luật hình sự:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn N phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lý Văn N 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/3/2022).
Giao bị cáo Lý Văn N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Giao cho UBND xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật đối với 13 cây thân gỗ nhóm VI đến nhóm VIII có khối lượng 1,646m3.
4. Áp dụng Điều 99, 231, 234 - Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hay niêm yết bản án ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T.Quang. - VKSND huyện Y; - Công an huyện Y; - T.H.A dân sự huyện Y; - Sở tư pháp tỉnh T.Quang; - UBND xã H; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạc Văn Tuyến |