- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A Tr phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/HSST. Ngày: 20 tháng 01 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H - TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Mùa A Sơn, Giám đốc trung tâm TTVH huyện VH.
+ Bà Bàn Thị Xuân, nguyên là cán bộ Đoàn TNCSHCM, hiện là Chủ tịch Hội LHPNVN huyện VH.
Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VH - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/TLST- ST ngày 17 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 12 năm 2021, và Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 02/2021/HSST – QĐ, ngày 15 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Giàng A Tr, tên gọi khác: không, sinh năm 1986, tại huyện VH, tỉnh Sơn La. Trú tại: Bản Ch T, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La. Giới tính: Nam, Tôn giáo: không; Đảng phái, đoàn thể: không. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Mông; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Con ông: Giàng A C và bà Tr Thị M; Bị cáo có vợ: Tr Thị G, sinh năm 1987, bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 9 năm 2021 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người có QLNVLQ: Anh Giàng A C, sinh năm 2005. Địa chỉ: Bản Ch T, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp của người có QLNVLQ: Chị Tr Thị G (mẹ Giàng A C). Địa chỉ: Bản Ch T, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên toà.
- Người phiên dịch: Anh Sồng A P. Địa chỉ: TK 10, thị trấn M Ch, huyện M Ch, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 00 phút ngày 02/9/2021, tại bản P C, xã VH, huyện VH, tỉnh Sơn La, Tổ công tác Công an huyện VH kiểm tra phát hiện bắt quả tang Giàng A Tr tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trong túi quần bên trái của Tr là 01 gói nilon màu đen, bên trong đựng 05 viên nén màu hồng, trên bề mặt có dập nổi chữ WY, Tr khai nhận đó là 05 viên Hồng Phiến (Methamphetamine) do nghiện ma túy. Khoảng 15h00 ngày 02/9/2021, Tr điều khiển xe máy BKS 26G1 – 088.18 đi từ nhà đến bản Mường An, xã Xuân Nha để làm nương. Đang làm nương, có một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ đi qua. Tr hỏi mua thì được người này bán cho 05 viên Hồng Phiến với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, Tr cất vào túi quần bên trái. Khoảng 21h30 ngày 02/9/2021, Tr điều khiển xe máy về nhà. Đến khu vực bản P C, xã VH thì bị Tổ công tác Công an huyện VH phát hiện bắt giữ.
Tổ công tác Công an huyện VH đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Đồng thời tạm giữ của Giàng A Tr số tiền 1.300.000 đồng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu xám, đen, vàng, BKS 26G1 – 088.18; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; 01 Giấy mua bán xe và dẫn giải Giàng A Tr cùng vật chứng về Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VH để xử lý.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện VH đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng 05 viên nén màu hồng thu giữ của Giàng A Tr được 0,536 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu “T” gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.
Tại kết luận giám định số: 1488 ngày 06/9/20201 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận:“Mẫu giám định ký hiệu T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,536 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,536 gam, loại Methamphetamine.”
Quá trình điều tra, CQĐT xác minh chiếc xe máy BKS 26G1 – 088.18 mà Giàng A Tr làm phương tiện phạm tội do anh Giàng A C, sinh năm 2005 (con trai Giàng A Tr) quản lý sử dụng. Chiếc xe máy này do vợ chồng Giàng A Tr góp tiền cùng Giàng A C mua để sử dụng chung trong gia đình (Giàng A Tr góp 1.000.000 đồng, vợ Giàng A Tr là Tr Thị G góp 2.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng do Giàng A C góp. Giá trị chiếc xe thời điểm mua là 13.000.000 đồng). Việc Tr mang xe đi mua và cất giữ trái phép chất ma túy Giàng A C và Tr Thị G không biết và không liên quan. Cơ quan điều tra Công an huyện VH đã trả lại chiếc xe cùng giấy tờ liên quan cho Giàng A C.
Cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 09/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện VH, truy tố Giàng A Tr về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Giàng A Tr phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
*Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Xử phạt Giàng A Tr từ 18 đến 24 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS: Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bị bóc mở + Vỏ gói ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Giàng A Tr.
Trả lại chị Tr Thị G số tiền 1.300.000 đồng.
Chấp nhận việc cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu xám, đen, vàng, BKS 26G1 – 088.18; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; 01 Giấy mua bán xe, cho Giàng A C quản lý sử dụng.
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, đề nghị HĐXX miễn án phí HSST cho bị cáo.
- Bị cáo, Người có QLNVLQ và người đại diện hợp pháp của người có QLNVLQ nhất trí với quan điểm của VKS, không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Do nghiện ma túy, Ngày 02/9/2021 Giàng A Tr đã có hành vi mua và tàng trữ trái phép 05 viên Hồng Phiến, khối lượng 0,536 gam với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ đã vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS, tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
. Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, phát sinh tội phạm về ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo nghiện ma túy, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội, do vậy cần có mức hình phạt tù tương xứng đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện VH, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La trong qua trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Do vậy, việc khởi tố, truy tố của CQĐT và VKS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số trình độ nhận thức hạn chế, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
. Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bị bóc mở + Vỏ gói ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Giàng A Tr, là những vật không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 1.300.000 đồng tạm giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo khai số tiền thuộc quyền sở hữu của vợ bị cáo (chị Tr Thị G) là không có căn cứ. Bị cáo cũng khai nhận có góp chung 1.000.000 đồng trong tổng giá trị chiếc xe máy BKS 26G1 – 088.18 (khi mua là 13.000.000 đồng) mà bị cáo làm phương tiện đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy, cần tịch thu phần tài sản này của bị cáo để sung ngân sách nhà nước. Do vậy, cần tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng để đảm bảo thi hành tiền bị tịch thu, trả lại bị cáo 300.000 đồng.
HĐXX xét thấy, Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe máy BKS 26G1 – 088.18 cho anh Giàng A C quản lý, sử dụng là có căn cứ, được chấp nhận.
. Về phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có tài sản (1.300.000 đồng), đã bị tịch thu sung ngân sách nhà nước, không có khả năng thi hành phạt bổ sung, do vậy, không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Đối với nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai đã mua ma túy của một người phụ nữ dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ. Cơ quan CSĐT không có căn cứ xử lý người bán ma túy, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về khối lượng ma túy tàng trữ trái phép.
. Về án phí: Bị cáo sống nơi có điều kiện đặc biệt khó khăn, do vậy, được miễn án hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Giàng A Tr phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo 24 (Hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/9/2021.
Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng Vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bị bóc mở + Vỏ gói ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Giàng A Tr.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng đối với bị cáo. Tạm giữ của bị cáo số tiền 1.000.000 đồng để đảm bảo thi hành tiền bị tịch thu sung ngân sách nhà nước. Trả lại bị cáo 300.000 đồng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 11/BBVC –CCTHA, ngày 10 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện VH đã trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu xám, đen, vàng, BKS 26G1 – 088.18; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; 01 Giấy mua bán xe cho anh Giàng A C quản lý, sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có QLNVLQ, người đại diện của người có QLNVLQ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TA tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKS huyện;
- Công an huyện;
- Trại giam;
- THA hình sự;
- THA dân sự;
- Bị cáo; người TGTT;
- Sở Tư pháp;
- Lưu án văn;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Đăng Quang
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đăng Quang
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |