- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pờ Hừ Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Pờ Hừ Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/HSST Ngày: 27/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Quách Văn Thành.
Bà: Lý Thị The.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Lương Gia Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2022/TL-ST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo.
- Pờ Hừ Đ: Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23/05/1994; nơi sinh: Huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi ĐKHKTT: bản Pha B, xã P, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Pờ Mò G (đã chết) và con bà Vàng Lo N, sinh năm 1968; Vợ: Thàng Gạ X, sinh năm 1997; Con, có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/06/2022, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường T cho đến nay - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Pờ Hừ Đ: Bà Nguyễn Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai C - Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Vàng Xé C, sinh năm 1991 - Trú tại: Bản Vạ P, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 03/06/2022, Pờ Hừ Đ đi nhờ xe máy của một người lạ mặt từ bản Pa B, xã P đến khu vực Nậm P thuộc bản Pắc M, xã Mường T để tìm mua Heroine về sử dụng và bán lẻ kiếm lời, khi đến khu vực Nậm P, Đ xuống xe đi bộ vào nhà của Pờ Xê P, qua trao đổi, Đ mua chịu được của P 01 gói Heroine với giá 4.000.000 đồng, Đ cất giấu vào trong túi áo đang mặc sau đó đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt quay về nhà, vào lúc 13 giờ chiều cùng ngày thì về đến nhà, Đ chia số Heroine ra chia thành 82 gói nhỏ, được gói bên ngoài bằng các mảnh nilon màu hồng, màu trắng và xanh rồi cho toàn bộ vào trong 01 lọ nhựa màu vàng hình trụ có nắp vặn rồi cho vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người, khoảng 17 giờ ngày 04/06/2022, Đ đi đến nhà ông Vàng Xa P ở cùng bản để chơi và ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì có Vàng Xé C đến hỏi mua Heroine để sử dụng, qua trao đổi, Đ đã bán cho C 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/06/2022 thì bị tổ công tác đồn biên phòng Ka L, huyện Mường T đến kiểm tra tại nhà ông P, tổ công tác phát hiện bắt quả tang đối với Đ và thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định tư pháp số 60/KLGĐ, ngày 06/06/2022 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: Tổng khối lượng 78 gói vật chứng thu giữ của Pờ Hừ Đ là 27,61 gam.
Tại kết luận giám định số: 494/GĐ-KTHS ngày 09/06/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 78 (bảy mươi tám) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ mẫu 01 đến mẫu 78) gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại kết luận giám định số: 612/GĐ-KTHS ngày 28/06/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: Số tiền 300.000 Việt Nam đồng gửi giám định là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số: 111/CT-VKS-MT ngày 14 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, truy tố Pờ Hừ Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- Trách nhiệm hình sự: Đối với Pờ Hừ Đ về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Pờ Hừ Đ từ: 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng đến 14 (mười bốn) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 7,4 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 (một) lọ nhựa màu vàng, hình trụ có nắp vặn; 80 (tám mươi) mảnh nilon (15 mảnh nilon màu hồng, 63 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu trắng) là vật chứng còn lại thu giữ của Pờ Hừ Đ.
+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 300.000 đồng, gồm: 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 07 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 05 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, do Pờ Hừ Đ bán trái phép Heroine mà có.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xét thấy: Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, dân tộc thiểu số La Hủ, gia đình thuộc hộ nghèo sinh sống ở xã P là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay, người bào chữa cho bị cáo sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tôi, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; miễn hình phạt tiền; xử lý vật chứng; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/06/2022, tại nhà ở của ông Vàng Xa P thuộc bản Vạ P, xã Tá B, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Pờ Hừ Đ đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng cho Vàng Xé C sử dụng. Ngoài ra Đ còn có hành vi tàng trữ trái phép 78 gói Heroine có kối lượng 27,61 gam để sử dụng và bán kiếm lời thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Ka L phát hiện bắt quả tang. Số Heroine mà Đ đã bán cho Chóng và 78 gói Heroine mà Đ đang tàng trữ bị thu giữ có cùng chung nguồn gốc, như vậy Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép Heroine với tổng khối lượng là 27,61 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Pờ Hừ Đ luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo, nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở xã P là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân bị cáo Pờ Hừ Đ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học đến lớp 09/12, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương. Bản thân chưa có tiền án, tiền sự, nhưng không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu và hám lời của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã P là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 7,4 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 (một) lọ nhựa màu vàng, hình trụ có nắp vặn; 80 (tám mươi) mảnh nilon (15 mảnh nilon màu hồng, 63 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu trắng) là vật chứng còn lại thu giữ của Pờ Hừ Đ.
+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 300.000 đồng, gồm: 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 07 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 05 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, do Pờ Hừ Đ bán trái phép Heroine mà có. [8]. Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xét thấy: Bị cáo là người sử dụng chất ma túy, dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã P là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy cần miển án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Pờ Hừ Đ đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử lý vật chứng; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Nhận thấy: [10]. Đối với việc Pờ Hừ Đ khai đã bán Heroine cho một người đàn ông tên Ly Phì Chô và một người đàn ông lạ mặt vào tối ngày 04/06/2022. Trong qúa trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của 02 người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [11]. Đối với Pờ Xê P. Qúa trình điều tra xác định: Pứ không thừa nhận việc đã bán Heroine cho Đ, ngoài lời khai của Đ không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với P. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Đối với Vàng Xé C là người đã mua được Heroine với Đ để sử dụng, sau khi mua được Heroine thì C đã sử dụng hết, ngày 19/09/2022 Công an huyện Mường T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với C. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
. Đối với ông Vàng Xa P, quá trình điều tra xác định, ông P không biết Đ cất giấu, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của mình, hiện tại ông P đã chết nên không đủ căn cứ để xử. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T không truy tố. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Pờ Hừ Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
+. Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Pờ Hừ Đ: 13 (mười ba) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 05/06/2022.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Pờ Hừ Đ.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 7,4 gam Heroine còn lại sau khi giám định; 01 (một) lọ nhựa màu vàng, hình trụ có nắp vặn; 80 (tám mươi) mảnh nilon (15 mảnh nilon màu hồng, 63 mảnh nilon màu xanh và 02 mảnh nilon màu trắng) là vật chứng còn lại thu giữ của Pờ Hừ Đ.
+. Tịch thu sung quỹ nhà nước: 300.000 đồng, gồm: 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 07 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng; 05 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, do Pờ Hừ Đ bán trái phép Heroine mà có.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Pờ Hừ Đ.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện M.Tè; - Công an huyện M.Tè; - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè; - Trại giam; - Chi cục THADS huyện M.Tè; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |