vanban.org

Bản án 24/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 09/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2021 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HS-ST.
Ngày: 09 – 5 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hồng

Các hội thẩm nhân dân 1.Ông: Phạm Quóc Vượng

2. Bà Phan Thị Vui

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thuyên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09/5/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 07/4/2022 theo quyết định xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 22/4/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, sinh năm 1985 tại TP Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: Chuột; Nơi cư trú: Tổ 8, ấp Thanh T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạnh H (đã chết).và bà Phạm Thị L, sinh năm 1956; Bị cáo chưa có vợ con, Tiền sự: Không

Tiền án: Ngày 21/4/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 13/2020/HSST đến ngày 28/6/2021 chấp hành xong hình phạt tù và đóng án phí hình sự.

Nhân thân:

Ngày 23/3/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 08/QĐ-TA, đến ngày 9/7/2018 chấp hành xong quyết định (Bút lục 126 – 128).

Ngày 17/3/2008 bị Tòa án nhân dân thị xã B xử phạt 24 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em” theo bản án số 15/2008/HSST, đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định trong bản án (Bút lục 110 – 113, 123).

Ngày 12/5/2010 bị Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Đắc Nông xử phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 19/2010/HSST, đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định trong bản án.

Ngày 30/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 103/2018/HSST, đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định trong bản án.

Ngày 17/12/2021 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt quả tang và bị tạm giữ . Ngày 24/12/2021 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức H sử dụng ma túy từ năm 2015, nguồn ma túy H sử dụng là mua của một số đối tượng không rõ nhân thân lai lịch ngoài xã hội.Vào khoảng 19 giờ ngày 16/12/2021, Nguyễn Đức H một mình đi đến khu vực ngã ba Đồng Tâm thuộc xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước tìm gặp và mua của một người thanh niên tên Lùn (không rõ lai lịch) 03 gói ma túy đá với giá 800.000đ để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, H bỏ 03 gói ma túy vào trong túi quần nhỏ phía trước bên phải đang mặc rồi đi về nhà tại tổ 08, ấp Thanh Trung, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Bút lục 49, 50 – 51). Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Lê Đình Hg (bạn H) đến nhà H và rủ H đi đến nhà Nguyễn Văn C ở xã Lộc Thịnh, huyện L, tỉnh Bình Phước chơi thì H đồng ý và mang theo 03 gói ma túy đã mua của Lùn. Sau khi đến nhà C ngồi chơi được khoảng 30 phút, Cảnh rủ H và Hg đi đến xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước tìm một người bạn của Cảnh tên S để lấy xe mô tô thì cả hai đồng ý. Sau đó Hg điều khiển xe mô tô hiệu HonDa Air Blade biển số 93E1- 256.85 chở H và Cảnh đi về huyện C. Khi đi đến tổ 6, khu phố 5, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phức thì bị lực lượng Công an kiểm tra thu giữ 03 gói ma túy trong túi quần nhỏ phía trước bên phải Nguyễn Đức H đang mặc và lập biên bản phạm tội quả tang đối với H

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số: 322/2021/GĐ-MT ngày 23/12/2021của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Phước kết luận về đối tượng giám định:

Tinh thể màu trắng có trong 03 gói nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5520gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 7 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 5, điểm h, Khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề xuất xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H mức hình phạt từ 32 tháng tù đến 36 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có người nào có ý kiến hoặckhiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Đức H là người nghiện ma túy nên ngày 16/12/2021 H mua 03 gói ma túy với giá 800.000đ của một người tên Lùn (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực xã Lộc Thịnh, huyện L, tỉnh Bình Phước để sử dụng. Sau đó, H cất giấu ma túy trên người rồi cùng Lê Đình Hg, Nguyễn Văn Cảnh đi đến huyện C chơi nhưng H không nói cho Cảnh, Hg biết H mang theo ma túy. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/12/2021, khi đi đến tổ 6, khu phố 5, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ trên người H 03 gói ma túy có trọng lượng 0,5520gam, loại Methamphetamine.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản xác định hiện trường, Kết luận giám định nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo có hành vi mua ma túy và cất giấu trong người nhằm mục đích sử dụng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 24 /CT-VKS ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Xét hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ, sử dụng ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình vi phạm. Nhân thân bị cáo rất xấu, đã từng bị các Tòa án xử phạt với các tội danh khác nhau, bản thân đang còn 01 tiền án chưa được xóa án tích thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, chưa có chí hướng cải tại tốt. Do đó cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm mới có tác dụng tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lần phạm tội này của bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Thống nhất với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H và đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên Tòa. Cụ thể:

- Số ma túy được niêm phong còn lại sau khi giám định là 0,4929 gam. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển số 93E1 – 256.85 là xe của Lê Đình Hg không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại xe trên cho Hg nên không xem xét.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen trắng; 01 điện thoại di động Viettel Model V6216 là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyên Hớn Quản đã trả lại cho bị cáo nên không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề xuất mức hình phạt với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2021

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy Số ma túy được niêm phong loại Methamphetamine, có khối lượng còn lại sau giám định là 0,4929 gam.

4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ