vanban.org

Bản án 24/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Chí H phạm tội Đánh bạc.

Giao bị cáo H cho UBND xã Cẩm Qúy, Hện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình S. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Chí H phạm tội Đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HSST
Ngày: 16/6/2022
.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết

Các hội thẩm nhân dân:

Bà: Trịnh Thị Khanh

Bà: Nguyễn Thị Tiếp

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hền– Thư ký Toà án nhân dân Hện Cẩm Thuỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Cẩm thuỷ tham gia phiên toà:

Ông: Cao Duy Phục – Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2022, tại hội trường TAND Hện C. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình S thụ lý số 20/2022/HSST, ngày 16/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HS ngày 27/5/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Chí H - Sinh ngày 16/7/1993 tại xã Cẩm Qúy, Hện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Cẩm Qúy, Hện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa 11/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch Việt Nam. Con ông: Bùi Chí H và bà Trương Thị D. Vợ: Bùi Thị Thanh Hền, chưa có con. Tiền án, tiền S: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Hoàng Văn T – Sinh năm 1990 Địa chỉ: Thôn C, xã C, Hện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn M – Sinh năm 1969 Địa chỉ: Thôn B, xã C, Hện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm 1980 Địa chỉ: Thôn S, xã C, Hện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Chị C – Sinh năm 1977 Địa chỉ: Thôn B, xã C, Hện C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Chị Dương Thị H – Sinh năm 1988 Địa chỉ: TDP Đ, TT Ph, H. C, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Anh Nguyễn Đình Ph – Sinh năm 1986. Vắng mặt

Anh Nguyễn Đình Ch – Sinh năm 1982. Có mặt. Đều trú tại: TDP Dương Đình H, TT Ph, H. C, tỉnh Thanh Hóa.

Anh Cao Văn S - Sinh năm 1977. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Q, xã C, Hện C, tỉnh Thanh Hóa.

Anh Lê H S – Sinh năm 1977. Có mặt.

Chị Vũ Thị Gi – Sinh năm 1982. Vắng mặt

Chị Nguyễn Thị O – Sinh năm 1983. Có mặt.

Anh Lê H Đ – Sinh năm 1975. Có mặt.

Anh Đinh Sỹ V – Sinh năm 1987. Có mặt.

Anh Dương Đình H – Sinh năm 1989. Vắng mặt. Đều trú tại: Thôn Q, xã C, Hện C, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cácT liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào chiều ngày 01/02/2020, Bùi Chí H cùng với Nguyễn Văn M, Hoàng Văn T, Cao Vũ Tuyên, Nguyễn Đình Ch, Hà Minh Hương, Dương Thị H, Nguyễn Đình Ph, Vũ Thị Lệ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim Thanh, Dương Đình H, C, Lê H S, Vũ Thị Gi, Lê H Đ, Đinh Sỹ V, Cao Văn S, Phạm Văn Cảnh cùng đi đến nhà Nguyễn Thị O để chơi. Tại nhà Nguyễn Thị O, một số người xin chịO để được đánh bạc và chịO đồng ý cho mọi người đánh bạc tại nhà mình. Sau đó, Nguyễn Văn M, Nguyễn Đình Ch, Bùi Chí H, Hà Minh Hương, Cao Vũ Tuyên, Nguyễn Đình Ph, Dương Đình H, Hoàng Văn T, C, Vũ Thị Lệ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim Thanh, Lê H S, Vũ Thị Gi, Cao Văn S, Đinh Sỹ V, Lê H Đ cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa. Lúc đầu khi đánh xóc đĩa Bùi Chí H là người cầm cái, khi Bùi Chí H không chơi nữa và đi về thì Nguyễn Đình Ch là người cầm cái, mức đánh mỗi ván từ 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng). Đến 16 giờ 45 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an Hện C phát hiện, bắt quả tang các đối tượng đánh bạc trong nhà Nguyễn Thị O.

Đối với Vũ Thị Lệ và Bùi Chí H, sau khi tham gia đánh bạc đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 02/6/2020 Cơ quan CSĐT Công an Hện C đã ra quyết định truy nã số 03 đối với Vũ Thị Lệ và Quyết định truy nã số 04 đối với Bùi Chí H. Ngày 04/6/2020 Cơ quan CSĐT Công an Hện Cẩm Thuỷ đã ra Quyết định tách vụ án hình S số 01, tách hành vi đánh bạc của Vũ Thị Lệ và Bùi Chí H để điều tra trong vụ án khác. Ngày 06/6/2020 Cơ quan CSĐT Công an Hện Cẩm Thuỷ đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình S, ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với Vũ Thị Lệ và Bùi Chí H.

Đến 23 giờ 30 phút ngày 19/02/2022 Bùi Chí H đầu thú với Công an Hện Cẩm Thuỷ và khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc vào ngày 01/02/2020. Vụ án đã được phục hồi điều tra theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/02/2021, Toà án nhân dân Hện Cẩm Thuỷ đã đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Thị O, Nguyễn Văn M, Nguyễn Đình Ch, Hà Minh Hương, Cao Vũ Tuyên, Nguyễn Đình Ph, Dương Đình H, Hoàng Văn T, C, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim Thanh, Lê H S, Vũ Thị Gi, Cao Văn S, Đinh Sỹ V và Lê H Đ về tội "Đánh bạc" theo Khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình. Ngày 23/6/2021, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Đình Ch, Cao Văn S, Đinh Sỹ V và Lê H Đ, do các bị cáo có kháng cáo. Bản án số 07/2021/HSST ngày 01/02/2021 của Tòa án nhân dân Hện C và Bản án số 105/2021/HSPT ngày 23/6/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, đã có hiệu lực pháp luật.

Về vật chứng:

- Thu giữ tại chiếu bạc gồm: 01 (một) đĩa bằng sứ màu trắng; 01 (một) bát bằng sứ màu trắng; 04 (bốn) quân bài vị hình tròn được cắt từ quân bài Tam cúc; Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam tổng số tiền 12.800.000đ (mười hai triệu tám trăm nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.

- Thu giữ, tạm giữ trên người các đối tượng gồm: 11 (mười một) điện thoại di động; 05 (năm) ví da; Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam tổng số tiền 32.070.000 đ (ba mươi hai triệu không trăm bẩy mươi nghìn đồng).

- Thu giữ cạnh nhà Nguyễn Thị O gồm: 02 (hai) xe mô tô.

- Số tiền đánh bạc của Bùi Chí H, Nguyễn Văn M, Nguyễn Đình Ch, Hà Minh Hương, Cao Vũ Tuyên, Nguyễn Đình Ph, Dương Đình H, Hoàng Văn T, C, Vũ Thị Lệ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim Thanh, Lê H S, Vũ Thị Gi, Cao Văn S, Đinh Sỹ V, Lê H Đ ngày 01/02/2020 được xác định là 41.990.000 đ (bốn mươi mốt triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Số tiền 2.880.000đ (Hai triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng) không liên quan đến vụ án, nên đã được trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Các vật chứng, đồ vật,T liệu tạm giữ đã được xử lý trong Bản án số 07/2021/HSST ngày 01/02/2021 của Toà án nhân dân Hện Cẩm Thuỷ.

Đối với hành vi đánh bạc của Vũ Thị Lệ Cơ quan CSĐT Công an Hện C đã tách ra để điều tra và xử lý trong vụ án khác.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKSCT, ngày 12/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Hện C truy tố Bùi Chí H về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 – BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện C giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đối với bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Chí H từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình S; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình S sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố là đúng. Trước đây năm 2018, bị cáo đi xuất khẩu lao động ở nước Nhật Bản. Trong thời gian về nghỉ phép, bị cáo đã tham gia đánh bạc vào ngày 01/02/2020. Đến ngày 04/02/2020, bị cáo tiếp tục đi sang nước Nhật Bản để làm việc theo Hợp đồng. Khi công an đến bắt quả tang, bị cáo không có mặt và không biết công an khởi tố vụ án. Nay bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật nên đã đầu thú, thành khẩn khai báo mong được S khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào cácT liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Hện C, Viện kiểm sát nhân dân Hện C, Ðiều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình S.

Về tội danh: Khoảng 15 giờ ngày 01 tháng 02 năm 2020 tại nhà của Nguyễn Thị O ở thôn Q, xã C, Hện C, tỉnh Thanh Hóa. Bùi Chí H cùng với Nguyễn Thị O, Nguyễn Văn M, Nguyễn Đình Ch, Hà Minh Hương, Cao Vũ Tuyên, Nguyễn Đình Ph, Dương Đình H, Hoàng Văn T, C, Vũ Thị Lệ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim Thanh, Lê H S, Vũ Thị Gi, Cao Văn S, Đinh Sỹ V, Lê H Đ đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, cách thức đánh bạc đúng như bản cáo trạng đã mô tả. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai của người làm chứng cùngT liệu khác có trong hồ sơ.

Hành vi của Bùi Chí H đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình S. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hện C truy tố hành vi của bị cáo là có cơ sở và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo tham gia “Đánh bạc” với nhiều đồng phạm, n H vụ án xảy ra ở vùng nông thôn miền núi, trình độ dân trí còn hạn chế, cách thức đánh bạc đơn giản, không tổ chức chặt chẽ, không có S bàn bạc trước, không có người khởi xướng, người chủ mưu cầm đầu, không có canh gác bảo vệ, vì vậy đây là vụ án đồng phạm giản đơn.

Hành vi đánh bạc của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây mất an ninh trật tự và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân vì vậy cần xử lý nghiêm minh. Xét vai trò của bị cáo là người cầm cái n H chỉ tham gia đánh bạc ở giai đoạn đầu.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S: Bị cáo Bùi Chí H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S được quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình S.

Về hình phạt: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ đã nêu ở trên và có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo bị truy nã n H đã ra đầu thú vào ngày 19/02/2022 trước khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình S về án treo, nên cũng ch a cÇn ph¶i c¸ch ly bÞ c¸o khái ®êi sèng x· héi mµ giao cho chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng gi¸m s¸t vµ gi¸o dôc ®Ó các bÞ c¸o cã c¬ héi c¶i t¹o trë thµnh ng êi tèt.

Về phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 321 Bộ luật hình S để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý trong Bản án số 07/2021/HSST ngày 01/02/2021 của Toà án nhân dân Hện Cẩm Thuỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình S sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Chí H phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Chí H 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo 10.000.000đ.

Giao bị cáo H cho UBND xã Cẩm Qúy, Hện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình S. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình S. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình S sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. N¬i nhËn:

Cỡ chữ