- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tặng Văn Lộ "Tàng trữa trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANHHOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bảnánsố: 24/2022/HS-ST Ngày: 27/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
__________________
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:BàNgô Thị T
Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn H và Bà Phan Thị M .
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị H ,Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày27/4/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 24/3/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS ngày 14/4/2022, đối với bị cáo:
Tặng Văn L ,sinh năm: 1993. Nơi cư trú: Bản Pù Quăn, xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.Dân tộc: Dao; Nghề nghiệp: trồng trọt.Trình độ học vấn: 5/12. Bố: Tặng Văn S (đã chết). Mẹ: Tặng Thị D , sinh năm: 1966.Vợ: Thao Thị P , sinh năm: 1997. Có ba người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh ngày 26/01/2022.Hiện mẹ, vợ và các con của bị cáo đang sinh sống tại bản Pù Quăn, xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
Tiền án: 02 (hai), ngày 28/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lát xử phạt 36 (ba sáu) tháng tù, ngày 09/7/2019 Tòa án huyện Mường Lát xét xử 30 (ba mươi) tháng tù đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tiền sự: Không. Bịtạm giữ ngày 27/12/2021, chuyển tạm giam ngày 02/01/2022 tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Lát,tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo:Ông Hà Văn K - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 14 giờ ngày 26/12/2021 bị cáo đi lấy củi thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông ở bản Cá Nọi, xã Pù Nhi, đúng lúc đang lên cơn thèm ma túy nên đã đến hỏi người đàn ông kia để mua ma túy, người này nói không có nhưng có tiền thì sẽ đi tìm mua giúp nên bị cáo đưa 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), cầm được tiền người này bảo bị cáo chờ một lúc, khoảng hơn 05 phút sau thì quay lại đưa cho bị cáo một túi nilon màu hồng, nói với bị cáo bên trong có ma túy (Heroine).Bị cáo cầm ma túy và vác củi đi về nhà. Khi về đến nhà bị cáo lấy ra sử dụng một ít, số còn lại bỏ vào một lọ nhựa màu vàng, có nắp vặn rồi cất vào túi áo.
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 27/12/2021 có Chẹo Văn P , sinh năm 1979, ở bản Con Dao, xã Quang Chiểu đến nhà hỏi mua máy phát điện cũ, nhưng bị cáo nói không có, Pết vẫn ngồi lại chơi, một lúc sau lại có Phan Văn L , sinh năm 1990, ở cùng bản cũng đến nhà rủ bị cáo đi lấy củi, bị cáo nói chờ tý ăn sáng xong rồi đi. Tiếp ngay sau đó lại có Vi Văn D (hay gọi theo con là C ), sinh năm 1977, ở bản Qua, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát cũng đến nhà bị cáo chơi. Khoảng hơn 09 giờ, khi đang nấu cơm trong nhà thì có lực lượng Công an huyện Mường Lát vào kiểm tra, nhìn thấy Công an,sợ bị phát hiện ma túy trong người nên bị cáo vội vàng lấy lọ nhựa chứa ma túyném xuống đất, ngay gần chỗ bị cáo đang đứng nhưng đã bị phát hiện, lực lượng Công an bắt bị cáo nhặt lên.Kiểm tra bên trong lọ nhựa thì phát hiện có 13 (mười ba) cục bột nhỏ dạng nén, màu trắng, bị cáo khai đó là ma túy, loại Heroinemua được hôm trước mang về để sử dụng. Tổ công tác đã đưa bị cáo và tang vật liên quan về Công an xã Pù Nhi tiếp tục làm việc. Còn Chẹo Văn P , Phan Văn L và Vi Văn D khi phát hiện có Công an cũng hoảng sợ nên bỏ chạy.
Tại bản kết luận giám định số: 247/PC09, ngày 31 tháng 12 năm 2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
Các cục bột dạng nén, màu trắng của phong bì mặt trước ghi “Vật chứng thu giữ Tặng Văn Lộ” niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,397 (không phẩy ba chín bảy gam), loại : Heroine”
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Bản cáo trạng số:23/CT-VKS-ML ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tranh luậnvà luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo khẳng định không ai xúi giục hay ép buộc nhận tội thay người khác nên Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạngvà đề nghị HĐXX:
Tuyên: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng:Điều 38;điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm okhoản 2Điều 249 BLHS;
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo từ05 nămđến05 năm 06tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tùtính từ ngày tạm giữ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình là hộ nghèonên không có tính khả thi.
Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đượcmiễn án phí HSST.
Tạiphiêntòa bị cáo khai nhận, trong quá trình điều tra, truy tốkhông bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, bị cáo khai, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy trái phép để sử dụng là vi phạm pháp luật và bị Nhà Nước nghiêm cấm nhưng do bản thân bị nghiện chất ma túy,không kìm chế được bản thân nên đã cố tình phạm tội. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu là đúng,bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Quan điểm của người bào chữa: Người bào chữađồng tình với quan điểm truy tốcủa VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Đềnghị HĐXXxử mức ánthấp nhất, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, bản thân trở thành công dân có ích và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, miễn án phí chobịcáo.
Bị cáo nhận tội, đồng tình với lời bào chữa, không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.
Lời sau cùng:Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xétmức án thấp nhất của khung hình phạt đểbị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo tàng trữ 0,397g Heroine,mục đích sử dụng; Bị cáo có hai tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, lần này lại phạm tội về ma túy do cố ý.Với tính chất vụ án, hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thànhtội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự Nước CHXHCN Việt Nam, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tốlà có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túycủa Nhà Nước. Hiện nay ma túy đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội về tác hại của nó, ma tuý là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy dưới mọi hình thứclà vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:
Nhân thân bị cáo: Có hai tiền án: Ngày 28/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Lát xử phạt 36 (ba sáu) tháng tù, ngày 09/7/2019 Tòa án huyện Mường Lát xứt xử 30 (ba mươi) tháng tù đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xét về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt chobị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và khối lượng chất ma túy thu giữ, đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biết khó khăn. HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét về vật chứng trong vụ án:
Số ma túycònlạisaugiámđịnhlàchấtNhànướcViệt Nam cấmlưuhành, cầntịchthu, tiêuhủy.
Các nhận định khác:
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo là người dân tộc Mông, bị cáo không biết tên, tuổi, lúc mua bán cũng không ai biết, không ai chứng kiến, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát không đủ căn cứ để xác minh và xử lý.
- Đối với Vi Văn D , Chẹo Văn P và Phan Văn L .Khi lực lượng Công an huyện vào kiểm tra nhà bị cáo, cả ba người này cũng đang ngồi chơi nhưng không ai biết bị cáo đang có ma túy, bị cáo cũng không nói cho ai trong số họ biết và trong lúc ngồi chơi họ cũng không làm gì vi phạm pháp luật, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát đã lấy được lời khai của Phan Văn L ở bản Pù Quăn, xã Pù Nhi, còn Duyên và Pết đã tiến hành xác minh, nhưng không có mặt tại địa phương, nên không có căn cứ xử lý đối với ba người này.
Xét về án phí và quyền kháng cáo:Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Về Điều luật:
Căncứ:Điểm o khoản2Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm c khoản 1Điều 47 Bộluậthìnhsự;
Căncứ: Điều 260;Khoản 2 Điều 106;Điều 331, Điều 333;Điều 135, Điều 136và Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ: Điểm đ khoản 1 Điều12Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Về tội danh: Tuyên: Tặng Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Vềhìnhphạt:
- Hìnhphạtchính: Xửbịcáo05 (Năm) năm 06(Sáu) thángtù
Thời hạn chấp hành hình phạt tùtính từ ngày tạmgiữ (27/12/2021).
- Hìnhphạtbổ sung: Miễnhìnhphạtbổ sung.
Về vật chứng:Tịch thu tiêu hủy:Phong bì niêm phong mẫu vậtđã qua giám định, do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, ghi vụ Tặng Văn L , được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ , Lê Minh T , Phạm Văn L và các hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đóng giáp lai.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Lát, theo Quyết định chuyển vật chứng số:22/QĐ-VKS-ML ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát và Biên bản giao nhận vật chứngsố:33/NK-2022ngày22/3/2022giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Lát, tỉnhThanhHóa.
Về án phí: Bị cáo đượcmiễn tiền án phí HSST.
Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Án xử công khai, có mặt bị cáo,người bào chữa chobị cáo.Bị cáocó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KTNV, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân H.Mường Lát; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - CQĐT Công an H. Mường Lát; - CQ THAHS - CA huyệnMườngLát; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND xã PùNhi, HuyệnMườngLát; - Bị cáo; - Người bào chữa chobị cáo; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Ngô Thị T |