vanban.org

Bản án 24/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Đỗ Huy H 18 (Mười tám) tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. *Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Huy H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Đỗ Huy H 18 (Mười tám) tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HS-ST
Ngày 26-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Yến - Giáo viên nghỉ hưu tại thị trấn Đ, huyện Lục Nam;

2. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ - Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền lợi trẻ em huyện Lục Nam;

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2022/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/HSST-QĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với:

1. Bị cáo: Đỗ Huy H, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2005; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Đỗ Huy N và con bà Lê Thị V; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Đỗ Huy N, sinh năm 1972 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Duy T – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang (Có mặt).

Địa chỉ: Số 663 đường L, phường D, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị hại: Ông Thân Văn M, sinh năm 1962 (Đã chết)

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

* Đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Lê Thị M, sinh năm 1940.

* Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị M:

Ông Thân Văn C, sinh năm 1965 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Huy N, sinh năm 1972 (Có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

4. Đại diện cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi lao động, sinh hoạt:

Bà Bùi Thị O – Hiệu trưởng Trường THPT Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

5. Người làm chứng: Anh Trần Quang N, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Huy H là học sinh và chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Khoảng hơn 18 giờ ngày 12/11/2021, ông Đỗ Huy N (là bố đẻ H) đi làm về có nói để quên máy cắt ở chỗ làm. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, H thấy xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu sơn xanh, BKS 98N3- 3251 của ông N để ở sân vẫn cắm chìa khóa điện ở xe nên H tự ý điều khiển xe mô tô đi từ nhà sang công trình đang xây dựng của ông N ở cùng tổ dân phố, mục đích để lấy máy cắt cho ông N. Khi H đi đến đoạn đường dân sinh (đường nội đồng) thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, H phát hiện phía trước, cách xe của H khoảng 15-20 m có ông Thân Văn M, sinh năm 1962 (bị câm điếc bẩm sinh) và anh Trần Quang N, sinh năm 1976 đều ở tổ dân phố C đang đi bộ tập thể dục cùng chiều. H thấy ông M đi sau anh N khoảng 3- 4 bước chân và đi ở phần giữa đường, còn anh N đi sát mép đường bên phải. H khai lúc này H đang đi với tốc độ khoảng 25-30 km/h, H bấm còi xe nhưng ông M không tránh nên H phanh xe và đánh lái sang trái để tránh nhưng do khoảng cách quá gần H không xử lý kịp đã để phần trước bên phải xe mô tô do H điều khiển va vào người ông M. Hậu quả ông M bị ngã xuống đường, H cùng xe mô tô bị ngã xuống ruộng bên trái đường. Ông M được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang và tử vong vào tối cùng ngày.

Ngày 13/11/2021, ông Đỗ Huy N đã tự nguyện giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu sơn xanh, BKS 98N3- 3251 cùng đăng ký xe để phục vụ điều tra, giải quyết vụ án.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã phối hợp với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện và tiến hành xác minh, điều tra theo quy định của pháp luật.

* Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường dân sinh thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ. Mặt đường trải bê tông rộng 2,56m, sát mép phải đường là mương dẫn nước rộng 0,95m, thành mương cao cách mặt đường 0,09m. Sát mương dẫn nước là khu vực cánh đồng, sát mép trái đường là khu vực rộng khô, thấp hơn mặt đường 1m.

Trên cánh đồng bên phải đường có đặt cột điện bê tông trên có ký tự “77I-T2” chọn làm mốc chuẩn, chọn mép phải đường làm mép chuẩn.

- Dấu vết cày xước dạng chùm không liên tục ký hiệu (1), chiều hướng từ tổ dân phố C tới đường liên xã mới, kích thước (5,9x0,15)m, vết đơn rộng nhất 3,5m, hẹp nhất 0,5cm. Điểm đầu vết cách mốc chuẩn 21m về phía đường liên xã mới, cách mép chuẩn 1,87m, điểm cuối vết cách mép chuẩn 2,34m.

- Dấu vết vật chất màu nâu đỏ dạng thâm, không rõ hình, kích thước (10 x 8) cm ký hiệu (2). Tâm vết cách điểm đầu vết (1) 1,63m về phía mép chuẩn, cách mép chuẩn 0,48m.

- Dấu vết mảnh nhựa, khẩu trang trên diện (1,2 x 0,08) m ký hiệu (3). Tâm vết cách tâm vết (2) 0,4m về phía đường liên xã mới, cách mép chuẩn 0,5m.

- Dấu vết mảnh nhựa trên ruộng bên trái đường, kích thước 8,5 x 10,5cm ký hiệu (4), điểm gần nhất cách điểm cuối vết (1) 4,75 m về phía đường liên xã mới, điểm gần nhất cách mép chuẩn 3,9m.

* Khám nghiệm tử thi ông Thân Văn M, sinh năm 1962 ở tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam. Phát hiện tử thi hồi 10 giờ 00 phút ngày 13/11/2021, các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

- Vùng đỉnh chẩm có vết chật da bầm tím sưng nề, kích thước (10x5) cm, vùng chẩm có vết chật da bầm tím sưng nề, kích thước (6x5) cm.

- Mặt, hai mắt nhắm tự nhiên, mũi chảy dịch màu nâu, không thấy dấu vết thương tích.

- Ngực, bụng, mông: vùng xương cùng cụt có 2 vết chợt da kích thước (3x1,5) và (2x1) cm.

- Ngực, bụng, lưng, mông không thấy dấu vết thương tích.

- Tay phải không thấy dấu vết thương tích, tay trái không thấy dấu vết thương tích.

- Chân phải không thấy có dấu vết thương tích.

- Chân trái mặt sau 1/3 giữa cẳng chân trái có 2 vết chật da, kích thước 7x1 và 3x1 cm.

- Bộ phận sinh dục không thấy tổn thương; Hậu môn không thoát phân.

- Khám kỹ bên ngoài không phát hiện tổn thương khác.

- Mổ tử thi: sọ não bộc lộ da đầu thấy tụ máu dưới da, vùng chẩm kích thước (13x12) cm, vỡ xương sọ vùng chẩm hình chữ Y, kích thước (9 + 2) x 0,1cm, qua khe xương vỡ có máu màu đỏ chảy ra ngoài.

* Khám xe mô tô nhãn hiệu SYM màu sơn xanh, BKS 98N3-3251 phát hiện:

- Xe không có gương chiếu hậu bên phải và bên trái.

- Phần nhựa bên phải ốp đèn xe phía trước bị vỡ khuyết, kích thước (10x8) cm.

- Mặt ngoài bên dưới ốp nhựa đèn xinhan phía trước bên phải có vết mài trượt mất bụi, kích thước (08x05) cm.

- Đầu tay phanh bên phải và tay nắm bên phải bám dính nhiều bùn đất.

- Mặt trước đầu để chân trước bên phải có vết mài trượt cao su bám dính đất, kích thước (2,5x1,5) cm, phần kim loại gắn cao su để chân có vết trượt mất bụi, kích thước (05x02)cm,

- Phanh chân bị chùn cong theo chiều từ trước về sau, mặt trước đầu phanh chân có vết mài trượt mất bụi, kích thước (04x0,8) cm, trên bề mặt đầu phanh chân có bám dính nhiều đất.

- Mặt trước đầu tay nắm bên trái có vết rách nhựa bám dính nhiều đất.

- Phần nhựa bảo vệ đèn xi nhan bên trái phía trước có vết mài sát nhựa, kích thước (05x06) cm.

- Đầu cần số phía trước bị chùn cong theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, trên đầu cần số phía trước có vết mài sát kim loại kích thước (01x01) cm.

- Mặt trước đầu để chân trước bên trái có vết rách mài trượt cao su, kích thước (02x2,8) cm.

- Phía dưới dầu để chân sau bên trái có vết mài trượt cao su, kích thước (0,8x0,5) cm.

- Mặt ngoài giá bảo vệ bên trái có vết mài sát kim loại, kích thước (41x01) cm.

Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã trưng cầu giám định pháp y, xác định nguyên nhân chết của ông Thân Văn M. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 4288/21/GĐPY ngày 15/11/2021 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, kết luận nguyên nhân chết: Chết do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ do tai nạn giao thông.

Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang để tiến hành giám định cơ chế hình thành dấu vết va chạm, xác định tốc độ của phương tiện ngay trước khi tai nạn xảy ra. Tại bản Kết luận giám định số 2044/KL-KTHS ngày 17/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

- Dấu vết chùn cong, mài trượt mất bụi, hướng từ trước ra sau tại bàn đạp phanh chân, để chân trước bên phải của xe mô tô 98N3-3251 được hình thành do va chạm với vật tày có bề mặt không cứng (như cơ thể nạn nhân M mặc quần áo) tạo nên là phù hợp. Không đủ căn cứ khoa học để xác định vị trí va chạm trên mặt đường.

- Dấu vết mài sát nhựa, cao su, kim loại, dính bùn đất tại bên trái của xe mô tô 98N3-3251 gồm: đầu tay nắm, ốp nhựa đèn xi nhan trước, cần số, để chân trước, để chân sau, bảo vệ yên xe được hình thành do xe mô tô 98N3- 3251 đổ nghiêng trái, văng rê, các vị trí trên tiếp xúc với vật tày có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên là phù hợp.

- Không đủ điều kiện để xác định tốc độ của xe mô tô 98N3- 3251 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Như vậy căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện; khám nghiệm tử thi ông Thân Văn M cùng lời khai của Đỗ Huy H đã có đủ cơ sở khẳng định nguyên nhân xảy ra tai nạn là do Đỗ Huy H chưa có giấy phép lái xe hạng A1, khi điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nhường đường cho người đi bộ vi phạm khoản 9, Điều 8; Điều 12 Luật giao thông đường bộ; Khoản 1, Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải. Đối với ông Thân Văn M cũng có lỗi vi phạm khoản 1, Điều 32 Luật giao thông đường bộ quy định đối với người đi bộ.

Từ những nội dung trên, Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố Đỗ Huy H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố và xác định việc bị Viện kiểm sát truy tố về tội danh trên là đúng người, đúng tội.

Đại diện theo ủy quyền của đại diện theo pháp luật của bị hại, người làm chứng đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Đại diện Trường THPT Đ, huyện Lục Nam nơi bị cáo học tập, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người vắng mặt tại phiên tòa.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 60 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đỗ Huy H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Giao Đỗ Huy H cho UBND thị trấn Đ, huyện Lục Nam quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.

2. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 85.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, do vậy về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận:

*Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa:

- Cáo trạng truy tố bị cáo Đỗ Huy H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

- Bị cáo là người chưa thành niên, chưa hoàn thiện về nhận thức, khi phạm tội mới hơn 16 tuổi, phạm tội do lỗi vô ý, không có động cơ mục đích.

- Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, được đại diện theo pháp luật của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của người bị hại.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90 và Điều 91 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo ở mức từ 18 tháng tù đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

* Bị cáo: Nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không bổ sung thêm ý kiến gì.

* Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo:

- Viện kiểm sát đã căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và quy định của pháp luật khi đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tù nhưng cho hưởng án treo. Mức hình phạt như trên là đã phù hợp quy định của pháp luật, do vậy Viện kiểm sát không nhất trí với mức hình phạt mà người bào chữa cho bị cáo đề nghị.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận với đại diện Viện kiểm sát:

- Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Gia đình bị cáo và gia đình bị hại là hàng xóm, nhiều năm qua có quan hệ rất tốt với nhau, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tương lai của bị cáo (hiện nay bị cáo đang là học sinh lớp 10). Án treo đã là một hình phạt rất nặng đối với bị cáo, do vậy đề nghị xem xét xử phạt bị cáo một mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai.

* Đại diện Viện kiểm sát: Vẫn giữ nguyên quan điểm về mức hình phạt đã đề nghị.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Huy N: Không có ý kiến gì tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được hưởng án treo để tiếp tục việc học tập.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của đại diện theo ủy quyền của đại diện theo pháp luật của bị hại, người làm chứng tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của đại diện theo pháp luật của bị hại, đại diện cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18 tuổi học tập, sinh hoạt và người làm chứng đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây cản trở cho việc giải quyết vụ án, quá trình điều tra những người này đã có lời khai trong hồ sơ, mặt khác đại diện theo pháp luật của bị hại đã nhận bồi thường đẩy đủ và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Về căn cứ xác định tội phạm:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 12/11/2021, Đỗ Huy H là người chưa có giấy phép lái xe hạng A1, đã tự ý lấy xe mô tô BKS 98N3- 3251 của ông Đỗ Huy N (là bố đẻ) đi trên đường dân sinh thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam. Do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, H đã để phần trước bên phải xe mô tô va vào người ông Thân Văn M đang đi bộ phía trước cùng chiều. Hậu quả làm ông M bị chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu nội sọ và chết cùng ngày tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận Đỗ Huy H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo là người chưa có giấy phép lái xe nên bị Viện kiểm sát truy tố theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, không chấp hành các quy định về an toàn giao thông, xâm phạm đến an toàn công cộng, gây hậu quả nghiêm trọng làm ông Thân Văn M tử vong. Do đó cần phải có một hình phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại thỏa đáng và được đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, mặt khác trong sự việc này cũng có một phần lỗi của bị hại (ông Thân Văn M không đi sát vào mép đường, vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 32 Luật Giao thông đường bộ). Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt thì thấy:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (được sửa đổi bổ sung một số điều tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có hiệu lực pháp luật ngày 10/5/2022). Xét thấy bị cáo Đỗ Huy H có đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị của Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tuy nhiên, xét thấy đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định, trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với bị cáo. Mặt khác bị cáo là người chưa thành niên nên cần áp dụng mức hình phạt cao nhất không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định theo quy định tại Điều 101 Bộ luật hình sự. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nhẹ hơn mức Viện kiểm sát đề nghị, xét như vậy là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường thỏa đáng cho đại diện gia đình bị hại. Đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét vấn đề này.

Đối với số tiền 85.000.000 đồng mà ông Đỗ Huy N bồi thường cho gia đình bị hại và tiền chi phí sửa chữa xe mô tô: Ông N không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên và không yêu cầu trả tiền sửa xe mô tô, do vậy về vấn đề này Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Ngày 08/01/2022, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho ông Đỗ Huy N chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu sơn xanh, BKS 98N3-3251 cùng giấy tờ xe. Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết vấn đề này.

Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra xác định ông Đỗ Huy N không biết việc bị cáo H sử dụng chiếc xe mô tô của ông ngày 12/11/2021 sau đó gây tai nạn, việc Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm đối với ông N là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết vấn đề này.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Huy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện theo ủy quyền của đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 136, Điều 292; Điều 293; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Đỗ Huy H 18 (Mười tám) tháng tù về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2022. Giao bị cáo Đỗ Huy H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

*Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo Đỗ Huy H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ