- Tranh chấp gì? án hình sự — "Siu E L “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Siu E L phạm tội “ Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HuyÖn I TØnh G B¶n ¸n sè:24/2022/HS - ST |
Ngµy: 15/8/2022
Nh©n danh
N¦íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn I tØnh G
- Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Lê Viết Thịnh.
C¸c Héi thÈm nh©n d©n:
Bà: Trịnh Thị Thanh Hồng
Ông: Hoàng Tuấn Linh
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Quản Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện I, tỉnh G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện I tham gia phiên Tòa: Ông Nay Uy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh G, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:12/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:15/2022/ QĐXXST – HS ngày 01 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Siu E L, sinh ngày: 01/12/2002, tại huyện I, tỉnh G.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn H’Lil 1, xã Ia M, huyện I, tỉnh G; nơi sinh sống: Thôn H’Lil 1, xã Ia M, huyện I, tỉnh G; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): 3/12; dân tộc: Ja rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch; Việt Nam; con ông Ksor Th, sinh năm 1973 và bà Siu H’M, sinh năm 1972; có vợ: Ksor H’N, sinh năm 2003; có 01 con, sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/4/2021, bị Hạt kiểm lâm huyện I, tỉnh G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1900783/QĐ-XPVPHC, về hành vi vận chuyển gỗ trái phép. Ngày 14/6/2021, Siu E L chấp hành nộp phạt xong với số tiền là 20.000.000 đồng.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nông Văn Thiện - Phó Ban phụ trách, Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M, huyện I, tỉnh G.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm: 1981 - Phó trưởng ban, Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M, huyện I, tỉnh G. Ủy quyền tham gia tố tụng và quyết định tất cả vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án (Văn bản ủy quyền ngày 11/8/2022). Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Siu H, sinh năm: 1994;
Trú tại: Thôn H’Lil 1, xã Ia M, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
2. Ksor Tu, sinh năm: 1995;
Trú tại: Thôn H’Lil 1, xã Ia M, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
3. Ksor K, sinh năm: 1995;
Trú tại: Thôn H’Lil 1, xã Ia M, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
4. Ksor Thi, sinh năm: 1973;
Trú tại: Thôn H’Lil 1, xã Ia M, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
* Người phiên dịch tiếng Jrai: Bà Ksor H’Bloan, sinh năm 1983;
Trú tại: Thôn Đăk Chá, xã Ia M, huyện I, tỉnh G. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/01/2022, Siu E L rủ Siu H và Ksor Tu đi vào rừng khai thác gỗ về làm nhà cho E Li thì H và T đồng ý. Sáng ngày 15/01/2022, E Li mang theo một cưa máy cầm tay và điều khiển xe công nông (xe của ông Ksor Thi, là bố của E Li) chở H và T đi vào rừng thuộc lô 3 khoảnh 8, lô 7 khoảnh 10 tiểu khu 1180 lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M quản lý, địa phận xã Ia Kdăm, huyện I, tỉnh G tìm cây gỗ để cắt hạ. Tại đây, E Li cùng với H, T thay nhau sử dụng cưa máy cắt hạ 03 cây gỗ thuộc chủng loại Bằng Lăng, Kơ Nia và cắt thành 03 lóng chất lên xe công nông. Đến sáng 18/01/2022 thì có thêm Ksor K tham gia cùng với E Li, H, T vận chuyển 03 lóng gỗ từ rừng ra đến bờ sông Ba, E Li, H và T thả gỗ xuống sông Ba cho gỗ trôi về đến đoạn thôn Đắc Chá, xã Ia M, huyện I, còn Kut điều khiển xe công nông về nhà ông Ksor Thi cất xe rồi đi làm mỳ. Đến khoảng 11 giờ ngày 18/01/2022, E Li trở về nhà lấy xe công nông và cùng với H, T đến khu vực bờ sông Ba thuộc thôn Đắc Chá, xã Ia M để kéo, vận chuyển gỗ lên xe thì bị Công an huyện I kiểm tra, phát hiện và lập biên bản.
Tại bản kết luận giám định tư pháp ngày 14/02/2022 của Giám định viên thuộc Hạt kiểm lâm huyện I, xác định:
- Vị trí khai thác: Thuộc lô 3, khoảnh 8, lô 7, khoảnh 10, Tiểu khu 1180.
- Hiện trạng rừng: Rừng gỗ tự nhiên núi đá đất lá rộng rụng là nghèo (RLN); rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng rụng lá phục hồi (RLP).
- Loại rừng: Rừng tự nhiên.
- Chức năng của rừng: Rừng sản xuất.
- Khối lượng lâm sản gỗ, củi thiệt hại là: 1,206m3 gỗ bị chặt hạ; 0,151m3 gỗ tận dụng cành ngọn; 0,144 ster củi.
- Chủ quản lý: Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M.
- Hành vi khai thác rừng trái pháp luật làm giảm trữ lượng gỗ trong lâm phần, không làm suy giảm diện tích rừng.
- Giá trị thiệt hại về môi trường sau khi rừng bị khai thác trái pháp luật là: Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 25/01/2022 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I đối với hành vi khai thác rừng trái pháp luật (khai thác chọn) không làm thiệt hại về diện tích rừng. Vậy hành vi khai thác rừng nói trên không đủ cơ sở để xác định thiệt hại về môi trường rừng.
Tại bản kết luận định giá về tài sản số 109 ngày 07/3/2022 của Hội đồng định giá về tài sản trong Tố tụng hình sự huyện I, kết luận: 03 cây gỗ khai thác trái phép tại lô 3, khoảnh 8, lô 7, khoảnh 10, Tiểu khu 1180 chỉ còn lại gốc gồm: 01 gốc cây Kơ Nia, 02 gốc cây Bằng Lăng (cụ thể khối lượng gỗ bị chặt hạ 1,206m3, gỗ tận dụng cành ngọn là 0,151m3 và 0,144 ster củi), trị giá 5.246.050 đồng. Không có giá trị thiệt hại về môi trường.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 17/CT – VKS ngày 16/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện I, tỉnh G, truy tố bị cáo Siu E L về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện I tỉnh G đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Siu E L phạm tội “ Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Siu E L từ 06 (Sáu) tháng đến 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
Về tang vật vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M: 01 lóng gỗ chủng loại Bằng Lăng dài 4,17m, rộng 0,38m, đường kính 0,38m; 01 lóng gỗ chủng loại Bằng Lăng dài 3,17m, rộng 0,33m, đường kính 0,33m; 01 lóng gỗ chủng loại Kơ Nia dài 4,6m, rộng 0,35m, đường kính 0,35m.
Đối với 01 (một) xe công nông là phương tiện mà Siu E L đã sử dụng để vận chuyển gỗ. Qua điều tra xác định đây là tài sản của ông Ksor Thi, là bố của E Li, việc E Li lấy xe công nông đi vận chuyển gỗ trái phép, ông Thi hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe công nông cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Ksor Thi.
Đối với 01 (một) máy cưa xăng cầm tay mà Siu E L sử dụng để cắt hạ cây là của E Li nhưng đã bị thất lạc trên đường vận chuyển gỗ, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Phần dân sự: Siu E L đã tự nguyện bồi thường xong cho Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M. Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, nên không đề cập đến.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Siu E L phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Ý kiến của bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của người bị hại: Nhất trí với quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản, mức hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người đại diện theo ủy quyền của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
T¹i phiªn toµ bị cáo Siu E L khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chøng cø khác có trong hå s¬ vô ¸n, như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Từ ngày 15/01/2022 đến ngày 18/01/2022, tại lô 3 khoảnh 8, lô 7 khoảnh 10 tiểu khu 1180 lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ Chứ Mố quản lý, Siu E L cùng với Siu H, Ksor Tu trực tiếp sử dụng cưa máy cắt hạ 03 cây gỗ chủng loại Bằng Lăng, Kơ Nia và cắt thành 03 lóng gỗ rồi cùng với Ksor K vận chuyển về đến thôn Đắc Chá, xã Ia M, huyện I thì bị bắt. 03 cây gỗ bị khai thác trái phép có khối lượng gỗ bị chặt hạ 1,206m3, gỗ tận dụng cành ngọn là 0,151m3 và 0,144 Ster củi, trị giá 5.246.050 đồng. Trước khi thực hiện hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép lần này, Siu E L đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển lâm sản trái phép, chưa hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Như vậy hành vi của bị cáo Siu E L đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Trong những năm qua và hiện nay trên địa bàn tỉnh G nói cH và địa bàn huyện IaPa nói riêng tình trạng vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản vẫn tiếp tục diễn ra, mặc dù các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác quản lý và bảo về rừng, tuy nhiên các vụ vi phạm vẫn xảy ra. Hành vi phạm tội của bị cáo làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, do đó hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa cH.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trộng; tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra trong vụ án này có Siu H, Ksor Tu và Ksor K chưa có tiền án, tiền sự; khối lượng gỗ khai thác, vận chuyển không đủ định lượng để xử lý hình sự nên hành vi của H, T và Kut không cấu thành tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, quy định tại Điều 232 Bô luật hình sự. Do đó, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Hạt kiểm lâm huyện I và Hạt kiểm lâm huyện I đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Siu H, Ksor Tu và Ksor K là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý rừng để bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào rừng khai thác gỗ trái phép tại lô 3 khoảnh 8, lô 7 khoảnh 10 tiểu khu 1180 lâm phần do Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M quản lý, địa phận xã Ia Kdăm, huyện I, tỉnh G, nhưng không kịp thời phát hiện, lập biên bản, ngăn chặn. Do đó, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân vi phạm, kịp thời chấn chỉnh, làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng và lâm sản.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tội danh, điều, khoản áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả Nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về ý kiến của bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện IaPa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện IaPa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5 ] Về án phí: Bị cáo Siu E L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Siu E L phạm tội “ Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Siu E L 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho Ban quản lý rừng phòng hộ Chư M: 01 lóng gỗ chủng loại Bằng Lăng dài 4,17m, rộng 0,38m, đường kính 0,38m; 01 lóng gỗ chủng loại Bằng Lăng dài 3,17m, rộng 0,33m, đường kính 0,33m; 01 lóng gỗ chủng loại Kơ Nia dài 4,6m, rộng 0,35m, đường kính 0,35m.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I và Chi cục thi hành án dân sự huyện I).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Siu E L phải chịu 200.000 ( Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( Ngày 15/8/2022). Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo/ những người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh G; cấp cao - Viện kiểm sát nhân dân huyện I; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh G; - Công an huyện IaPa; - Chi cục THADS huyện I; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Viết Thịnh |