- Tranh chấp gì? án hình sự — "Rơ ô P phạm tội hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo R’ô P phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 24/2022/HS-ST Ngày 22 – 7 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PA TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Pep.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Dinh và bà Ksor H’Quá
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Giang - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nay Gơm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
R’ ô P, sinh ngày 09/9/1999 tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Buôn Chờ Tung, xã Ia H’Dreh, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông H’ Ving Ph và bà R’ ô H’ P, có vợ là chị Kpă H’M, có 01 con, sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, hiện có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo R’ ô Phil: Bà Bùi Thị Ph – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị hại: Cộng đồng dân cư buôn Djrông
Đị chỉ: Buôn Djrông, xã Ia Dreh, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (nay là buôn Tơ Nung xã Ia Dreh, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai)
Người đại diện hợp pháp: Ông Siu Y(Siu Y) –Trưởng ban quản lý rừng Cộng đồng buôn Djrông.
Địa chỉ: Buôn Tơ Nung, xã Ia Dreh, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án : Ông Ksor J, sinh năm 1970
Địa chỉ: Buôn Ji, xã Krông Năng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (vắng mặt, đã có đơn xin được xét xử vắng mặt)
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Anh Nay Dăm Tr, sinh năm 1986
Trú tại: Tổ dân phố 7, thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 01/2015, do không có đất sản xuất nên R’ô P đã sử dụng máy cưa xăng và rựa đi vào khu vực rừng tại lô 18, khoảnh 9, tiểu khu 1429, lâm phần xã Ia Dreh, Krông Pa, Gia Lai chặt hạ cây rừng, đốt cháy để lấy đất trồng lúa, trồng đậu với diện tích là 6.400m2.
Vào tháng 3/2020, R’ô P tiếp tục phát rừng để mở rộng đất sản xuất nông nghiệp với diện tích 5.300m2 tại lô, khoảnh, tiểu khu nêu trên, sau đó đến tháng 04/2021 R’ô P thu gom gỗ củi lại đốt cháy để lấy đất trồng đậu.
Ngày 19/7/2021, Hạt kiểm lâm phối hợp với Công an huyện Krông Pa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, UBND xã Ia Dreh tiến hành khám nghiệm hiện trường rừng bị chặt phá. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Tổng diện tích rừng bị hủy hoại là 11.700 m2, loại rừng sản xuất, trạng thái rừng: TXN (Rừng gỗ tự nhiên núi đất thường xanh nghèo) trong đó 6.400m2 rừng bị chặt phá vào tháng 01/2015, còn diện tích 5.300m2 rừng bị chặt phá vào tháng 3/2020. Loại cây bị chặt hạ chủ yếu là Ké, Bằng Lăng, Kơ Nia, SP... Tổng số cây bị chặt hạ là 502 cây, thuộc nhóm gỗ III, IV, V, VI, VII, VIII. Có khối lượng gỗ tròn bị thiệt hại là: 14.155 m3 (mười bốn phẩy một trăm năm mươi lăm mét khối), khối lượng củi bị thiệt hại là 0.620 Ster (Không phẩy sáu trăm hai mươi ster).
Ngày 23/7/2021, Hạt kiểm lâm phối hợp với Công an huyện Krông Pa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, UBND xã Ia Dreh tiến hành khám nghiệm hiện trường bổ sung rừng bị chặt phá vào thời điểm năm 2020. Kết quả khám nghiệm hiện trường bổ sung xác định: Diện tích rừng bị hủy hoại là 5.300 m2, loại rừng sản xuất, trạng thái rừng: TXN (Rừng gỗ tự nhiên núi đất thường xanh nghèo). Loại cây bị chặt hạ chủ yếu là Ké, Bằng Lăng, Kơ Nia, SP... Tổng số cây bị chặt hạ là 225 cây, thuộc nhóm gỗ III, IV, V, VI, VII, VIII. Có khối lượng gỗ tròn bị thiệt hại là: 7.305 m3 (bảy phẩy ba trăm lẻ năm mét khối), khối lượng củi bị thiệt hại là 0.390 Ster (Không phẩy ba trăm chín mươi ster)
Ngày 17/9/2021, Hạt kiểm lâm huyện Krông Pa ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 08 ngày 17/9/2021 và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Pa để điều tra theo quy định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 49/KL – HĐĐGTS, ngày 22/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Krông Pa xác định tổng trị giá thiệt hại đối với diện tích 11.700m2 về gỗ, củi là 25.444.904 đồng, thiệt hại về môi trường là 65.234.468 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả khám nghiệm hiện trường và kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Tại phiên tòa, ông Siu Y là người đại diện hợp pháp của bị hại Cộng đồng dân cư buôn Djrông đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì gia đình bị cáo khó khăn nhưng đã vay mượn số tiền khắc phục hậu quả bồi thường toàn bộ thiệt hại mà bị cáo đã gây ra.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 25 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo R’ô P về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo R’ô P vào tội “Hủy hoại rừng”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX): Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của BLHS: xử phạt bị cáo R’ô P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm;
Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01(một) máy cưa xích không xác định nhãn hiệu, màu trắng, không có phần ốp nhựa bên trái và trên thân máy; phần lưỡi cưa có in chữ “PROFESSION AL LASER BAR và 01(một) dao (rựa) có chiều dài 65cm, có lưỡi bằng kim loại dài 29cm, bản rộng 3,5cm, cán dao bằng kim loại hình trụ tròn dài 36cm, bên ngoài có quấn dây thun màu đen; Buộc bị cáo R’ô P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo R’ô P đồng ý với bản luận tội của đại diện VKSND huyện Krông Pa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, đề nghị HĐXX xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo không nhớ ngày nhưng trong tháng 01/2015, bị cáo đã có hành hành vi dùng máy cưa xăng và rựa cắt hạ, chặt phá, phát dọn cây rừng với diện tích là 6.400m2 rừng tại lô 18, khoảnh 9, Tiểu khu 1429 lâm phần xã Ia Dreh, huyện Krông Pa, thuộc loại rừng sản xuất, trạng thái rừng TXN (Rừng gỗ tự nhiên núi đất thường xanh nghèo). Đến tháng 3/2020, bị cáo R’ô P tiếp tục dùng máy cưa xăng và rựa cắt hạ, chặt phá, phát dọn cây rừng tại lô, khoảnh, tiểu khu nêu trên để mở rộng đất sản xuất nông nghiệp với diện tích bị chặt phá là 5.300m2 rừng. Tổng diện tích rừng mà bị cáo cắt hạ, chặt phá là 11.700 m2, gây thiệt hại về lâm sản gỗ, củi là 25.444.904 đồng, thệt hại về môi trường môi trường là 65.234.468 đồng. Tổng trị giá tài sản bị xâm hại đối với diện tích 11.700 m2 rừng bị hủy hoại là 90.679.372 đồng
Tuy nhiên, đối với diện tích rừng 6.400m2 mà bị cáo R’ô P chặt phá vào tháng 01/2015 nhưng tại thời điểm R’ô Phil chặt phá thì bị cáo R’ô Phil chưa đủ 16 tuổi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên theo Điều 12 của Bộ luật Hình sự, bị cáo R’ô P không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Hủy hoại rừng quy định tại Khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Còn đối với diện tích 5.300m2 rừng mà bị cáo chặt phá vào tháng 3/2020 thì thấy rằng, tại thời điểm chặt phá bị cáo R’ô P là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi dùng dao rựa, cưa xăng cắt hạ, chặt phá, phát dọn diện tích 5.300m2 rừng tại lô 18, khoảnh 9, tiểu khu 1429 thuộc Ban quản lý, Ban kiểm soát, Tổ bảo vệ rừng Cộng đồng buôn Djrông, xã Ia Dreh quản lý để lấy đất làm rẫy mà không có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền là đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng”. Diện tích rừng mà bị cáo chặt phá là 5.300m2 đã thỏa mãn định mức được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của BLHS, như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo rõ ràng là có lỗi và sai trái với đường lối, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta, nay phải chịu trách nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý đã gây ra.
Lời nhận tội của bị cáo R’ô Phil tại phiên tòa phù hợp với nội dung cáo trạng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “Hủy hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo R’ô P chặt phá 5.300m2 rừng không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm b khoản 1 Điều 243 của BLHS là phù hợp.
Tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tính chất của hành vi phạm tội: Bị cáo R’ô P là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là chặt phá rừng lấy đất làm nương rẫy đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng của quốc gia đang được Nhà nước và nhân dân quan tâm chăm sóc và bảo vệ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra. Tuy nhiên cũng cần xét đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là điều cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Trong vụ án này thì bị cáo R’ô P một mình trực tiếp thực hiện hành vi cắt hạ, chặt phá, phát dọn diện tích rừng là 5.300m2 nên bị cáo phải chịu toàn bộ trách nhiệm hình sự về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của BLHS, tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, thật sự có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, mặc dù gia đình khó khăn nhưng bị cáo đã vay mượn tiền để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Mặt khác, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng sâu, vùng xa, có sự nhận thức hạn chế về pháp luật, bị cáo không biết chữ, do thiếu đất sản xuất nên đi chặt phá rừng với mục đích là lấy đất làm nương rẫy phục vụ cho nhu cầu thiết yếu cuộc sống của gia đình, bị cáo là lao động chính trong gia đình có xác nhận của UBND xã Ia Dreh. Ngoài ra tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ khác được áp dụng cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 nêu trên, bản thân bị cáo R’ô P là người có nhân thân tốt, có chỗ ở ổn định, không có tiền án, tiền sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ điều kiện để xử bị cáo Phil hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo có thời gian thử thách theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo mà không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội, để bị cáo được cải tạo, giáo dục tại nơi cư trú, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, vừa đảm bảo tính giáo dục, cải tạo trừng trị nói riêng đối với bị cáo, vừa đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo R’ô P khó khăn, thu nhập của bị cáo không ổn định nên HĐXX quyết định không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét lời luận tội của Kiểm sát viên và quan điểm của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo bị cáo R’ô P tại phiên tòa về điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự, mức hình phạt là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về những vấn đề khác:Trong thời gian bị cáo R’ô P thực hiện hành vi chặt phá rừng từ tháng 01/2015 thì diện tích rừng bị chặt phá nêu trên thuộc UBND xã Ia Dreh quản lý, bảo vệ, lúc đó ông Ksor J giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã Ia Dreh, đến tháng 11/2013 ông J nghỉ hưu cho đến nay. Đến ngày 07/12/2015,Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Krông Pa có Quyết định thành lập“ Ban quản lý, Ban kiểm soát, Tổ bảo vệ rừng cộng đồng buôn Djrông, xã Ia Dreh do ông Siu Y là trưởng ban từ tháng 12/2015 đến nay. Xét thấy công tác quản lý và bảo vệ rừng của UBND xã Dreh và của Ban quản lý, Ban kiểm soát, Tổ bảo vệ rừng Cộng đồng buôn Djrông, xã Ia Dreh cũng có một phần trách nhiệm, thiếu kiểm tra, kiểm soát đối với diện tích rừng được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ để xảy ra tình trạng huỷ hoại rừng diễn ra trong một thời gian rất dài, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước. Tuy nhiên, trên cơ sở kết quả định giá, xác định: Tổng tài sản bị thiệt hại đối với diện tích rừng bị hủy hoại dưới 100.000.000 đồng, vì vậy hành vi của ông Ksor J và ông Siu Y không đủ yếu tố cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố, người đại diện hợp pháp của bị hại Cộng đồng dân cư buôn Djrông yêu cầu bị cáo R’ô P phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về gỗ củi bị chặt phá và thiệt hại về môi trường với tổng số tiền 90.679.372 đồng, bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường xong toàn bộ số tiền 90.679.372 đồng cho bị hại Cộng đồng dân cư buôn Djrông. Tại phiên tòa giữa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không bên nào yêu cầu hay tranh chấp gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ của bị cáo R’ô P gồm: 01(một) máy cưa xích không xác định nhãn hiệu, màu trắng, không có phần ốp nhựa bên trái và trên thân máy; phần lưỡi cưa có in chữ “PROFESSION AL LASER BAR và 01(một) dao (rựa) có chiều dài 65cm, có lưỡi bằng kim loại dài 29cm, bản rộng 3,5cm, cán dao bằng kim loại hình trụ tròn dài 36cm, bên ngoài có quấn dây thun màu đen, đây là những công cụ phạm tội có giá trị sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo R’ô P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Qua vụ án này, xét thấy công tác quản lý và bảo vệ rừng của UNĐ xã Dreh và của Ban quản lý, Ban kiểm soát, Tổ bảo vệ rừng Cộng đồng buôn Djrông, xã Ia Dreh còn lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm cần kiểm điểm rút kinh nghiệm để thực hiện nhiệm vụ công tác được tốt hơn, tránh gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
Trong vụ án này, Ủy ban nhân dân xã Ia Dreh và Ban quản lý, Ban kiểm soát, Tổ bảo vệ rừng Cộng đồng buôn Djrông, xã Ia Dreh cũng có một phần trách nhiệm, thiếu kiểm tra, kiểm soát đối với diện tích rừng được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ để xảy ra tình trạng huỷ hoại rừng diễn ra trong một thời gian dài, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước. Do đó, thông qua Bản án này, Hội đồng xét xử kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã Ia Dreh và Ban quản lý, Ban kiểm soát, Tổ bảo vệ rừng Cộng đồng buôn Djrông, xã Ia Dreh trong việc để xảy ra tình trạng huỷ hoại rừng, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước nêu trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo R’ô P phạm tội “Hủy hoại rừng”.
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo R’ô P 01( một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03( ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 22/7/ 2022.
Giao người được hưởng án treo R’ô P cho Uỷ ban nhân dân xã Ia Dreh, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- 01(một) máy cưa xích không xác định nhãn hiệu, màu trắng, không có phần ốp nhựa bên trái và trên thân máy; phần lưỡi cưa có in chữ “PROFESSION AL LASER BAR
- 01(một) dao (rựa) có chiều dài 65cm, có lưỡi bằng kim loại dài 29cm, bản rộng 3,5cm, cán dao bằng kim loại hình trụ tròn dài 36cm, bên ngoài có quấn dây thun màu đen.
Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/5/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Pa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo R’ô P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo, bị hại, người đại diện có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/7/2022), còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Dinh
-
Ksor H’Quá
Ksor Pep