- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Tươi - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐS TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/HS-ST Ngày 11 - 08 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐS TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Long
Bà Lê Thị Thanh
- TH ký phiên toà: Bà Lại Thị M Hồng - TH ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Lê Xuân Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 07 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 07 năm 2022, đối với bị cáo:
Lê Thị T; sinh ngày 18 tháng 09 năm 1973; tại huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn VB, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Cư (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Tâm (đã chết); chồng: Lâm Bá Năm, con: 02 ; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/12/2021 đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
Cháu Lâm Thị Bảo TH – Sinh năm 2019 (Đã chết)
Địa chỉ: Thôn VB, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện hợp pháp cho cháu Lâm Thị Bảo TH:
Anh Lâm Bá C – Sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn VB, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa, là bố của cháu TH. Có mặt.
- Người làm chứng:
Ông Lê Công M - Sinh năm: 1969
Địa chỉ: Thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 24/01/2022, Lê Thị T, sinh năm 1973 ở thôn VB, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe đạp điện chở theo hai cháu nhỏ là Lâm Thị Bảo TH, sinh năm 2019 ngồi giữa và cháu Lâm Thị Bảo TR, sinh năm 2017 ngồi sau (là hai cháu nội của T). Khi đi đến đoạn đường gần đường ray tàu thuộc địa phận thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện có tàu hỏa đi qua, nên Lê Thị T dừng xe đạp điện để chờ tàu đi qua, cùng lúc này có anh Lê Công M, sinh năm 1969, ở thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa đang điều khiển chiếc xe máy bừa kéo theo thùng tự chế đứng chờ tàu đi qua. Khi tàu hỏa vừa đi qua thì anh Lê Công M điều khiển xe máy bừa đi trước, còn Lê Thị T điều khiển xe đạp điện đi sau. Đến đoạn đường liên xã thuộc thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa, thì Lê Thị T điều khiển xe đạp điện đi sang lề đường bên phải để vượt xe máy bừa kéo theo thùng tự chế, do lề đường đất có nước và đất trơn nên khi Lê Thị T đi xe đạp điện vượt đến phần đầu thùng xe máy bừa tự chế thì xe đạp điện trượt làm T, cháu TR và cháu TH bị ngã xuống đường, cháu TH ngã đập đầu xuống đường rồi va vào bánh sau bên phải xe máy bừa kéo thùng tự chế, dẫn đến cháu TH bị Thương được đưa đến trạm y tế xã ĐQ, tuy nhiên trên đường đi cấp cứu thì cháu TH đã tử vong. Đối với Lê Thị T và cháu Lâm Thị Bảo TR không bị Thương, chiếc xe đạp điện và xe máy bừa kéo theo thùng tự chế bị hư hỏng nhẹ.
- Quá trình khám nghiệm hiện trường tại đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa xác định hiện trường không còn nguyên vẹn, xe máy bừa kéo theo thùng tự chế đã rời khỏi hiện trường, người bị Thương đã được đưa đi cấp cứu. Đoạn đường thẳng mặt đường rải nhựa rộng 3m70 lề đường đất hai bên là 1m, lề đường đất sét ướt, trên mặt đường để lại vết máu cùng xe đạp điện nằm đổ mép đường đất bên trái có để lại các vết tỳ trượt, trên đoạn đường có biển báo số 221a làm điểm mốc, cụ thể các vết như sau:
+ Số (1): Vết tỳ trượt 1 có đặc điểm tỳ xuống lề đường đất tạo nên vết hằn của vết lốp xe đạp, cuối vết tỳ trượt có chiều từ trái qua phải đi từ hướng xã Đông Phú về xã ĐQ, điểm rộng nhất vết tỳ trượt là 7cm dài là 8m50, đầu vết tỳ trượt nằm tiếp giáp mép đường phải, cuối vết tỳ trượt trùng với bề mặt lốp sau của xe đạp. Từ đầu vết tỳ trượt cách cột biển báo 221a bên trái là 9m.
+ Số (2): Vết tỳ trượt 2 có đặc điểm tỳ xuống lề đường của lề đường đất vết có chiều hướng từ xã Đông Phú về xã ĐQ, chếch từ trái qua phải, vết có hình dạng vân lốp xe đạp, vết có kích Thước dài là 2m80cm x10cm, đầu vết cách đầu vết tỳ trượt 1 là 6m15 vào mép đường nhựa bên phải là 20cm, cuối vết cách trục sau xe đạp là 40cm.
+ Số (3): Xe đạp điện nữ màu sơn xanh có gắn mác Panasonic xe có giỏ đèo hàng phía trước và giá đèo người phía sau, xe nằm đổ nghiêng bên trái, trục trước và trục sau nằm bên lề đường đất, thân xe trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng về hướng xã ĐQ hơi chếch về lề đường phải, từ trục sau xe vào mép đường là 10cm, trục trước xe vào mép đường nhựa bên phải là 40cm.
+ Số (4): Vết máu có đặc điểm loang lỗ trên mặt đường màu đỏ thẫm tạo thành đám vết có kích Thước 50cmX70cm, từ tâm vết máu vào mép đường nhựa bên phải là 1m, từ tâm vết đám máu đến trục sau xe đạp điện là 1m20cm.
Ngày 24/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐS ra quyết định Trưng cầu giám định gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định nguyên nhân chết của cháu Lâm Thị Bảo TH liên quan đến vụ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nêu trên. Tại kết luận giám định số 816/KL- KTHS ngày 18/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận như sau:
+ Các vết xây xước da, bầm tụ máu tại vùng đầu, mặt, ngực, vai, tay trái.
+ Tụ, ngấm máu tổ chức dưới da đầu vùng trán đỉnh thái dương trái
+ Vỡ xương hộp sọ, rách màng cứng.
+ Chảy máu màng mềm.
- Nguyên nhân chết: Vỡ xương hộp sọ, chảy máu màng mềm.
Ngày 25/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐS ra quyết định Trưng cầu giám định gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định dấu vết trên phương tiện liên quan đến vụ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nêu trên. Tại kết luận giám định số 897/KL- KTHS ngày 28/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận như sau:
1. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe máy bừa kéo theo thùng tự chế với xe đạp điện.
2. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện khi xảy ra tai nạn giao thông.
Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã tiến hành thu giữ hình ảnh camera của Công ty cổ phần thông tin tín hiệu đường sắt Vinh. Camera được lắp đặt tại khu vực đường sắt, đoạn qua đường liên xã thuộc thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa, mắt camera hướng về phía xã ĐQ ghi lại toàn bộ hình ảnh vụ tai nạn giao thông. Ngày 18/03/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐS ra quyết định Trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định dữ liệu điện tử liên quan đến vụ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nêu trên. Tại kết luận giám định số 1351/KL-KTHS ngày 08/04/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong một tệp video của một đĩa CD-R gửi giám định.
Đối với anh Lê Công M là người trực tiếp điều khiển xe máy bừa kéo theo thùng tự chế là vi phạm pháp luật, tuy không trực tiếp gây ra cái chết cho cháu Lâm Thị Bảo TH nhưng việc anh M đã tự chế thùng vào máy bừa là vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định hành vi khác nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ; đồng thời vi phạm vào điểm b khoản 2 Điều 19 Nghị định 100/2019/NĐ của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, quy định điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng sản xuất, lắp ráp hoặc cải tạo trái quy định tham gia giao thông.
Quá trình điều tra, bị can Lê Thị T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.
Về dân sự: Bị cáo đã thực hiện xong việc bồi THờng thiệt hại cho gia đình cháu TH, đại diện cho gia đình cháu TH không còn có yêu cầu gì về mặt dân sự đối với bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSĐS ngày 07 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS để xử phạt Lê Thị T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với chiếc xe đạp điện mà Lê Thị T điều khiển gây ra vụ tai nạn giao thông, quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe của anh Lâm Bá C, sinh năm 1993 ở thôn VB, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 12/6/2022, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức trả lại chiếc xe đạp điện cho anh Lâm Bá C quản lý và sử dụng.
- Đối với chiếc xe máy bừa kéo thùng tự chế của anh Lê Công M, sinh năm 1969 ở thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, ngày 12/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐS đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức chuyển hồ sơ và xe máy bừa kéo thùng tự chế đến đội Cảnh sát giao thông trật tự cơ động Công an huyện ĐS xem xét xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiêm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định tử thi, lời khai củ, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện ĐS đã thu thập được.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐS, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm hình sự: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 21/04/2022, Lê Thị T điều khiển xe đạp điện chở theo hai cháu nhỏ là Lâm Thị Bảo TH, sinh năm 2019 ngồi giữa và cháu Lâm Thị Bảo TR, sinh năm 2017 ngồi sau, khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hóa, Lê Thị T điều khiển xe đạp điện đi sang lề đường bên phải để vượt xe máy bừa kéo theo thùng tự chế, do lề đường đất có nước và đất trơn nên xe đạp điện vượt đến phần đầu thùng xe máy bừa tự chế thì xe đạp điện trượt làm bị can T, cháu TR và cháu TH bị ngã xuống đường, cháu Lâm Thị BảoTH ngã đập đầu xuống đường rồi va vào bánh sau bên phải xe máy bừa kéo thùng tự chế, dẫn đến cháu TH bị Thương được đưa đến trạm y tế xã ĐQ, tuy nhiên trên đường đi cấp cứu thì cháu TH đã tử vong. T và cháu TR không bị Thương, chiếc xe đạp điện và xe máy bừa kéo theo thùng tự chế bị hư hỏng nhẹ.
Hành vi của Lê Thị T đã vi phạm khoản 4; điểm đ khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định: “Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái,...”; “Không được vượt xe khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt”, xâm hại tính mạng của con người, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý nghiêm M trước pháp luật.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào điểm a, khoản 1 Điều 260 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ như sau: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi THờng được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo về việc cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục nên không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội. Bị cáo do bất cẩn khi tham gia giao thông nên đã không may gây ra cái chết cho cháu TH, cũng chính là cháu nội của mình. Sau khi gây ra tai nạn, bị cáo cũng đã thực hiện xong việc bồi THờng cho gia đình bị hại, quá trình điều tra gia đình bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa gia đình bị hại cũng đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Việc cho bị cáo án phạt cải tạo không giam giữ không gây nguy hiểm cho xã hội hay ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương. Ngoài ra cho bị cáo cải tạo ngoài cộng đồng còn thể hiện chính sách pháp luật nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng điều 36 BLHS đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (có xác nhận của UBND xã ĐQ) nên Hội đồng xét xử cân nhắc và quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- Đối với chiếc xe đạp điện mà Lê Thị T điều khiển gây ra vụ tai nạn giao thông, quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe của anh Lâm Bá C, sinh năm 1993 ở thôn VB, xã ĐQ, huyện ĐS. Ngày 12/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức trả lại chiếc xe đạp điện cho anh Lâm Bá C quản lý và sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với chiếc xe máy bừa kéo thùng tự chế của anh Lê Công M, sinh năm 1969 ở thôn ĐT, xã ĐQ, huyện ĐS, ngày 12/6/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện ĐS đã ra Quyết định xử lý bằng hình thức chuyển hồ sơ và xe máy bừa kéo thùng tự chế đến đội Cảnh sát giao thông trật tự cơ động Công an huyện ĐS xem xét xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Lê Thị T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Lê Thị T về cho Uỷ ban nhân dân xã ĐQ, huyện ĐS, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Lê Thị T thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Buộc bị cáo Lê Thị T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Lê Thị T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp cho bị hại; - CQĐT CA huyện ĐS; - CQTHAHS CA huyện ĐS; - VKSND huyện ĐS; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - Lưu HSVA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Long Lê Thị Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tân THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tân |